Ngày đăng:   Thứ 5, 08-06-2017 10:13:10   /   Lượt đọc: 572

Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý lớp 9

(GDTĐ) - Tạp chí GDTĐ xin giới thiệu sáng kiến kinh nghiệm của cô giáo Trịnh Thị Mai Liên – Trường THCS Xuân Mai A, huyện Chương Mỹ đoạt giải B cấp ngành với đề tài “Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý lớp 9".

 

Thực tế môn Địa lí ít được học sinh chú ý nhưng đây lại là một môn học tương đối khó. Để dạy tốt và học tốt môn Địa lí ở trường phổ thông là một việc không hề đơn giản, vì vậy việc phát hiện và dạy học sinh giỏi môn Địa lí lại càng khó hơn gấp bội, đòi hỏi cả thầy và trò phải có một phương pháp dạy và học tập đúng đắn, kết hợp với lòng nhiệt tình thì mới đạt kết quả cao.

Nội dung kiến thức của bộ môn Địa lý rất rộng và nội dung trong các đề thi Địa lý cũng không dừng lại ở khối học nào mà bao quát từ lớp 6 đến lớp 9, do vậy người giáo viên cần xác định được những kiến thức trọng tâm của từng khối lớp để ôn thi cho học sinh.

Đối với chương trình Địa lý lớp 6:

Sự vận động tự quay quanh trục và chuyển động quanh mặt trời của trái đất và các hệ quả, giải thích nguyên nhân của các hệ quả.

Tính ngày mặt trời lên thiên đỉnh, tính góc nhập xạ, tính giờ chiếu sáng, tính ngày dài 24 giờ.

Đối với chương trình Địa lý lớp 8:

Nội dung ra đề chủ yếu là những câu hỏi giải thích mang tính tư duy vận dụng do vậy trong quá trình ôn thi, GV không nên ôn thi nhiều kiến thức cho các em mà chỉ nên đề cập tới những nội dung liên quan đến các sự vật hiện tượng xảy ra cần phải được giải thích. Còn phần tự nhiên Việt Nam trọng tâm là một số đặc điểm tự nhiên của nước ta đặc biệt là: khí hậu, địa hình, sông ngòi, hình dạng lãnh thổ.

Đối với chương trình Địa lý lớp 9:

Đây là chương trình quan trọng nhất trong chương trình nội dung ôn thi gồm:

Phần lý thuyết : Phần địa lý dân cư (Bài 2, 4), địa lý kinh tế (Bài 6,12,

13, 14). Địa lý các vùng (chủ yếu là phần tự nhiên của các vùng –Đặc biệt chú ý tới câu hỏi “Trong phát triển kinh tế -xã hội vùng … gặp những thuận lợi và khó khăn gì” ? Câu hỏi này bao quát toàn bộ phần tự nhiên của mỗi vùng đồng thời đây cũng là câu hỏi thường xuyên có trong các đề thi do vậy giáo viên nên cho các em làm quen với dạng câu hỏi này để khắc sâu kiến thức.

Phần thực hành: Biểu đồ là phần không bao giờ thiếu trong các đề thi song trên thực tế kỹ năng này của các em còn rất yếu và lúng túng khi bắt gặp các bài dạng này, đặc biệt là phương pháp nhận dạng biểu đồ khi người ta cho biết bảng số liệu thống kê. Phần thực hành biểu đồ bao gồm các bước sau:

- Nhận dạng biểu đồ

- Vẽ biểu đồ

- Nhận xét, giải thích biểu đồ

Phương pháp nhận dạng biểu đồ:

Các loại biểu đồ rất phong phú, đa dạng. Mỗi loại biểu đồ có thể được dùng để vẽ biểu hiện nhiều chủ thể khác nhau. Đối với đề không ghi rõ yêu cầu cụ thể là vẽ biểu đồ gì mà chỉ yêu cầu vẽ dạng thích hợp nhất thì cần phải phân tích đề thật kỹ trước khi thực hiện. Để nhận dạng được biểu đồ học sinh cần đọc kỹ đề và dựa vào một số cụm từ gợi ý, một số yếu tố cơ bản từ đề bài để xác định đúng dạng cần vẽ, cụ thể:

* Biểu đồ hình cột:

-Dạng biểu đồ này sử dụng để chỉ sự khác biệt về qui mô khối lượng của một hay một số đối tượng địa lý hoặc sử dụng để thực hiện tương quan về độ lớn giữa các đại lượng.

- Dấu hiệu nhận dạng loại biểu đồ này là khi đề ra có cụm từ: Tình hình, so sánh, sản lượng, số lượng. Ví dụ: Vẽ biểu đồ so sánh dân số, diện tích … của một số tỉnh (vùng, nước) hoặc vẽ biểu đồ so sánh sản lượng ( lúa, ngô, than…) của một số địa phương qua một số năm.

Ví dụ cụ thể:

Qua bảng số liệu hãy vẽ biểu đồ thích hợp thể hiện SL đàn trâu, đàn bò ở nước ta qua các năm 1980, 1999. (Đơn vị: nghìn con)

Năm

1980

1990

1999

Đàn trâu

2300

2700

3000

Đàn bò

1700

3100

4000

 

*Biểu đồ đường - đồ thị:

Đồ thị hay còn gọi là đường biểu diễn là dạng biểu đồ dùng để thể hiện tiến trình phát triển, sự biến thiên của các đối tượng qua thời gian.

Dấu hiệu nhận dạng loại biểu đồ này là khi đề ra có cụm từ: Tốc độ tăng trưởng, tốc độ phát triển.

* Biểu đồ hình tròn:

Thường dùng để biểu diễn cơ cấu thành phần của một tổng thể và qui mô của đối tượng cần trình bày. Chỉ được thực hiện khi giá trị tính của các đại lượng được tính bằng % và các giá trị thành phần cộng lại bằng 100%.

- Dấu hiệu nhận dạng loại biểu đồ này là khi đề ra có cụm từ: Cơ cấu, qui mô.

* Biểu đồ miền:

Loại biểu đồ này thể hiện được cả cơ cấu và động thái phát triển của các đối tượng. Toàn bộ biểu đồ là 1 hình chữ nhật (hoặc hình vuông), trong đó được chia thành các miền khác nhau. Dấu hiệu nhận dạng loại biểu đồ này là khi đề ra có cụm từ: Cơ cấu và có nhiều mốc thời gian (từ 4 mốc thời gian trở lên).

* Biểu đồ kết hợp

- Thường kết hợp giữa biểu đồ cột và biểu đồ đường, được dùng để diễn tả mối tương quan về động thái phát triển giữa 2 đối tượng địa lí có thước đo khác nhau.

- Dấu hiệu nhận dạng loại biểu này là khi đề ra: cho nhiều đối tượng, nhiều đơn vị khác nhau.

Ví dụ cụ thể:

Cho bảng số liệu sau đây: Diện tích và năng suất lúa ở nước ta giai đoạn 1990-2000.

Năm

1990

1993

1995

1997

2000

Diện tích (nghìn ha)

6042,8

65559,4

6765,6

7099,7

7666,3

Năng suất (tạ/ha)

31,8

34,8

36,9

38,8

42,4

 

Vẽ biểu đồ thể hiện diễn biến diện tích và năng suất lúa (1990-2000).

Phương pháp vẽ biểu đồ:

*Biểu đồ cột:

Các bước tiến hành:

Bước 1: Chọn tỉ lệ thích hợp

Bước 2: Kẻ hệ trục toạ độ vuông góc

+ Trục đứng thể hiện đơn vị của các đại lượng, có mũi tên, có mốc ghi cao hơn giá trị cao nhất trong bảng số liệu. Phải ghi rõ danh số (nghìn tấn, tỉ đồng…)     + Trục ngang thể hiện các năm hoặc đối tượng khác: có mũi tên và ghi rõ danh số. Nếu trục ngang thể hiện năm thì chia mốc thời gian tương ứng với mốc thời gian ghi trong bảng số liệu.

Bước 3: Tính độ cao của từng cột cho đúng tỉ lệ rồi thể hiện trên giấy.

Bước 4: Hoàn thiện biểu đồ: ghi các số liệu tương ứng vào các cột, vẽ ký hiệu và lập bản chú giải, ghi tên biểu đồ.

Một số dạng biểu đồ cột thường gặp: Biểu đồ cột đơn, biểu đồ cột chồng, biểu đồ cột đơn gộp nhóm, biểu đồ thanh ngang.

* Biểu đồ đường - đồ thị:

Các bước tiến hành:

Bước 1: Kẻ hệ trục toạ độ vuông góc

+ Trục đứng thể hiện đơn vị của các đại lượng, có mũi tên, có mốc ghi cao hơn giá trị cao nhất trong bảng số liệu.

+ Trục ngang thể hiện năm và chia mốc thời gian tương ứng với mốc thời gian ghi trong bảng số liệu.

Bước 2: Xác định tỉ lệ thích hợp ở cả hai trục. Chú ý tương quan giữa độ cao của

trục đứng và độ dài của trục ngang sao cho biểu đồ đảm bảo được tính trực quan và thẩm mỹ.

Bước 3: Căn cứ vào các số liệu của đề bài và tỉ lệ đã xác định để tính toán và đánh dấu toạ độ của các điểm mốc trên 2 trục. Khi đánh dấu các năm trên trục ngang cần chú ý đến tỉ lệ. Thời điểm năm đầu tiên nằm dưới chân trục đứng.

Bước 4: Hoàn thiện (ghi số liệu vào biểu đồ, chú giải, ghi tên biểu đồ).

* Biểu đồ hình tròn:

Các bước tiến hành:

Bước 1: Xử lý số liệu (Nếu số liệu đề bài cho là số liệu thô như; tỉ đồng, triệu

người… thì ta phải chuyển sang số liệu tinh là: % ).

Bước 2: Xác định bán kính của hình tròn. Bán kính cần phù hợp với khổ giấy để

đảm bảo tính trực quan và thẩm mĩ cho biểu đồ.

Bước 3: Chia hình tròn thành các hình quạt theo đúng tỉ lệ và thứ tự của các thành phần theo trong đề ra.

Bước 4: Hoàn thiện biểu đồ; ghi tỉ lệ của các thành phần lên biểu đồ, lập bảng chú giải theo thứ tự của hình vẽ. Ghi tên biểu đồ.

* Biểu đồ kết hợp:

Các bước tiến hành:

Bước 1: Kẻ hệ trục toạ độ vuông góc với 2 trục dọc ở 2 bên biểu đồ, mỗi trục thể hiện một thước đo khác nhau.

Bước 2: Vẽ biểu đồ cột ; Vẽ biểu đồ đường

Bước 3: Hoàn thiện biểu đồ. (Tương tự cách vẽ biểu đồ cột và biểu đồ đường).

Phương pháp nhận xét, giải thích biểu đồ:

Tùy theo từng nội dung của các biểu đồ mà học sinh dựa vào đó để nhận xét, giải thích song trong quá trình nhận xét nhất thiết học sinh không thể dùng lời viết chung chung mà cần có dẫn chứng để chứng minh bằng những con số cụ thể và có sự so sánh. Cần rèn luyện cho các em kỹ năng nhận xét chung sau đó đi đến nhận xét cụ thể có kèm theo các số liệu.

Sau khi thực hiện các phương pháp nêu trên, số lượng học sinh dự thi học sinh giỏi môn Địa lý đoạt giải cao ngày càng tăng.

Trên đây là một số nét chính của đề tài “Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý lớp 9" của cô giáo Trịnh Thị Mai Liên – Trường THCS Xuân Mai A, huyện Chương Mỹ. Mọi chi tiết xin truy cập vào website:http://khohoclieu.hannoiedu.vn.

BBT, nguồn: Tạp chí Giáo dục Thủ đô số 89+90, tháng 5 - 6/2017

Ý kiến bạn đọc (0)

Viết ý kiến của bạn
 
Thăm dò ý kiến

Bạn thích nhất chuyên mục nào trên Tạp chí Giáo dục Thủ đô ?
  • Vấn đề - Sự kiện
  • Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vu
  • Gia đình - Nhà trường - Xã hội
  • Gương mặt cơ sở
  • Có thể bạn chưa biết
  • Văn hóa - Văn nghệ