Ngày đăng:   Thứ 4, 03-09-2014 15:55:10   /   Lượt đọc: 15189

Ngành giáo dục thường xuyên: Miệt mài thắp sáng tri thức cho nhân dân Thủ đô

(GDTĐ) - Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gọi những thầy cô giáo làm công tác bình dân học vụ là những “vô danh anh hùng” vì những đóng góp thầm lặng của họ. 60 năm qua, từ các lớp bình dân học vụ đến bổ túc văn hóa rồi tiến lên giáo dục thường xuyên, những anh hùng vô danh trên mặt trận giáo dục của Thủ đô luôn ghi nhớ lời dạy của Bác “phải chống nạn thất học”. Các thầy cô trăn trở tìm cách vận động những người chưa biết chữ đi học, đa dạng hình thức học tập cho phù hợp với từng đối tượng... tất cả đều xuất phát từ khát khao mang ánh sáng tri thức đến mọi người dân Hà Nội.

 

Giai đoạn 1954 – 1959: Bình dân học vụ

Ngay sau giải phóng Thủ đô năm 1954, ngành giáo dục Hà Nội đứng trước một thách thức nặng nề. Cả Hà Nội chỉ có 96 trường tiểu học, 4 trường phổ thông trung học. Số trường này chỉ đáp ứng 20% số trẻ đến trường. Chính vì vậy 80% trẻ em thất học và khoảng 80% người dân Hà Nội chưa biết chữ. Đứng trước hoàn cảnh ấy, ngày mùng 1 Tết Bính Thân năm 1956, tại trụ sở Uỷ ban Hành chính Hà Nội, Bác Hồ chúc Tết đồng bào và trao nhiệm vụ thanh toán mù chữ ở Thủ đô. Như vậy, sau khi giải phóng Thủ đô, Hà Nội lại tiếp tục cuộc chiến chống lại giặc dốt qua các lớp bình dân học vụ, thành quả của Cách mạng tháng Tám (1945).

Ông Nguyễn Cổn – Nguyên PGĐ Sở GD&ĐT Hà Nội, người đã gắn bó với công tác giáo dục thường xuyên từ những năm đầu sau giải phóng nhớ lại: “Sau giải phóng Thủ đô, toàn Thành phố tập trung vào việc diệt dốt. Thực hiện lời dạy của Bác, các lớp học bình dân học vụ nở rộ khắp cả nước với nhiều hình thức, học ở mọi lúc mọi nơi. Việc dạy tiến hành theo kiểu “du kích”, người biết chữ dạy người chưa biết chữ. Thành phố huy động học sinh các trường cấp 2, cấp 3 tham gia dạy các lớp bình dân học vụ ở khắp các khu phố từ nội thành đến ngoại thành. Quan tâm công tác này, dù bận trăm công nghìn việc, Bác Hồ vẫn đến thăm lớp bình dân học vụ ở khu lao động Lương Yên, quận Hai Bà Trưng và gửi huy hiệu của người tặng những người có thành tích dạy tốt, học tốt và người vận động tốt”.

Thủ đô mới giải phóng, điều kiện học tập vô cùng khó khăn, thiếu trường, thiếu giáo viên, nghèo nàn về cơ sở vật chất, phải tìm địa điểm học tập…Thầy và trò phải học tại đình chùa, tận dụng nhà kho để làm lớp học. Tuy trong điều kiện khó khăn nhưng các thầy cô giáo nhiệt tình giảng dạy. Bất kể mưa tuôn hay gió lạnh, học sinh và nhân dân Thủ đô vẫn nhiệt tình tham gia các lớp để mong biết chữ. Đây là nguồn sức mạnh tổng hợp giúp Thủ đô đẩy nhanh quá trình xóa mù chữ. 4 năm sau ngày giải phóng Thủ đô, năm 1958, Hà Nội đã thanh toán mù chữ cho 78.464 người, đưa tỷ lệ người biết chữ lên 97,7%.

Tại Hà Tây, không khí học tập cũng diễn ra sôi nổi, gần như mọi tầng lớp dân chúng, ai chưa biết chữ đều được huy động ra lớp học. Từng khối phố, từng xóm làng đâu đâu cũng có lớp học xóa mù chữ. “Chiến sĩ diệt dốt” chủ yếu là những người biết chữ, trong đó thanh thiếu niên học sinh giữ số đông. Với kế hoạch 3 năm thanh toán nạn mù chữ và bước đầu phát triển bổ túc văn hóa (1956 – 1958), mặt trận xóa mù chữ được phát triển mạnh. Huyện Đan Phượng trong 5 năm (1954 – 1958) đã thanh toán nạn mù chữ được cho hơn 16 nghìn người. Chiến dịch “Điện Biên Phủ diệt dốt” được phát động sâu rộng, Ban chỉ đạo xuống tận cơ sở kiểm tra công tác diệt dốt. Những hội nghị “Diên Hồng diệt dốt toàn tỉnh” được mở ở nhiều nơi. Đặc biệt, hội nghị tổ chức tại Thanh Oai đã được Trưởng ban thanh toán nạn mù chữ Trung ương Tôn Đức Thắng về dự và chỉ đạo hội nghị. Khẩu hiệu “lúa xanh tươi, người biết chữ”, “làm mùa tốt, diệt dốt hăng”… có sức cổ vũ tích cực cho phong trào thanh toán nạn mù chữ. Hàng ngàn người có công diệt dốt đã được tặng ảnh Bác Hồ có chữ ký của Người – phần thưởng của Bác dành cho những chiến sĩ diệt dốt có nhiều thành tích.

Giai đoạn 1959 – 1994: Bổ túc văn hóa

Ngày 7/1/1959, tại lễ mừng công Hà Nội căn bản xóa xong mù chữ tại câu lạc bộ Lao động, Bác khen ngợi nhân dân và cán bộ Thủ đô và trao nhiệm vụ bổ túc văn hóa (BTVH) cho 6 vạn người. Bác nói: “Phải hoàn thành xóa mù chữ rồi tiến lên bổ túc văn hóa cho đồng bào”.

Như vậy là từ năm 1959, công tác xóa mù chữ vẫn tiếp tục được tiến hành nhưng song song với nhiệm vụ phổ cập cấp 1 toàn dân, phổ cập cấp 2 cho độ tuổi thanh niên và các cán bộ xã, cấp 3 cho các cán bộ chủ chốt các xã, huyện, các cơ quan, xí nghiệp. Lời dạy của Bác Hồ là phương châm hoạt động của những người làm công tác bổ túc văn hóa. Năm 1960, mở đầu kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Hà Nội phát động học BTVH tốt để đẩy mạnh sản xuất và công tác tốt và đã huy động được 7 vạn người đi học. Trong lần đến thăm trường BTVH ở phố Trần Nhật Duật, Bác căn dặn: “Học thì phải cố gắng đi học đều. Giáo viên nên thường xuyên trao đổi kinh nghiệm với nhau để cải tiến giảng dạy. Cán bộ nên năng thăm lớp để khuyến khích động viên và góp ý cho người dạy và người học”.

Bà Nguyễn Bạch Ngọc lúc này đang công tác tại phòng Bổ túc văn hóa và trực tiếp tham gia vận động các cơ quan xí nghiệp tổ chức các lớp bổ túc văn hóa cho cán bộ, công nhân viên. Bà Ngọc kể lại: Nhiệm vụ của chúng tôi là rà đi soát các cơ quan nếu còn người chưa biết chữ thì phải mở lớp, tổ chức lớp để xóa xong mù chữ. Tiêu chuẩn của thành phố Hà Nội đề ra cao hơn tiêu chuẩn của Bộ GD&ĐT. Có hai nhóm đối tượng chính, một là người lao động phổ thông như nông dân, công nhân. Yêu cầu đặt ra với nhóm này là phải biết đọc, biết viết. Thứ hai là những công nhân, viên chức đang làm trong cơ quan nhà nước. Nhóm này phải đạt trình độ cao hơn nhóm đầu tiên, và đặc biệt, đảng viên không được phép mù chữ. Về việc mở lớp, ban ngày họ phải đi làm, hơn nữa, nếu học ban ngày cũng không có địa điểm để tổ chức dạy, chính vì vậy, các lớp bổ túc phải mở vào buổi tối.

Nói về không khí học tập trong giai đoạn này, ông Nguyễn Hữu Tuyển nguyên là chuyên viên phòng Bổ túc văn hóa cho biết: “Hai tối một tuần, hầu như toàn bộ các xã, các cơ quan xí nghiệp, cán bộ công nhân viên và nhân dân đốt đèn đi học. Các trường Dân chính phục vụ việc học văn hóa cho cán bộ, công nhân viên chức, nhân dân ở nội thành; các trường BTVH tập trung do Sở giáo dục trực tiếp mở; các trường Phổ thông lao động phục vụ việc học văn hóa cho cán bộ, nông dân ngoại thành được thành lập từ Trung ương đến các tỉnh thành quận huyện. Ngoài hình thức tổ chức đa dạng như trên còn có các lớp tự học có hướng dẫn từ xa. Học viên thường xuyên đi công tác lưu động có thể theo học các lớp ấy. Không có những buổi học tập trung, họ được phát tài liệu, giải đáp thắc mắc bằng cách gửi thư. Cuối mỗi kỳ có bài kiểm tra tập trung và cuối khóa được cấp chứng chỉ”.

Dù chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ khó khăn, khốc liệt nhưng quân dân Hà Nội không quên nhiệm vụ học văn hóa với tinh thần “đội bom đi học”. Năm 1965 – 1966, toàn Thành phố có 21 trường Bổ túc văn hóa với 412 giáo viên và 18 nghìn học sinh. Người người nô nức đi học BTVH bên ánh đèn điện, ngọn đèn dầu tù mù trong từng ngõ xóm. Các chiến sĩ canh gác vùng trời, vùng biển biên cương của Tổ quốc học BTVH ngay trên mâm pháo, bên bom tàu. Chỉ tiêu kế hoạch BTVH được hoạch định tỉ mỉ, phấn đấu phổ cập giáo dục cấp 1, cấp 2 và cấp 3. Kết quả là trong 20 năm từ 1954 đến 1974, Hà Nội đã huy động được 1.378.779 lượt người tham gia các lớp xóa mù chữ, BTVH ở cả 3 cấp học. Cũng trong 20 năm ấy, 17 đơn vị và 1 cá nhân được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động về công tác xóa mù chữ và BTVH.

Sau cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, nhu cầu học tập của người dân Hà Nội ngày càng cao. Các trường công lập không đủ đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân. Vì vậy năm 1977, Hà Nội khởi xướng xây dựng mô hình trường BTVH văn hóa thanh thiếu niên vừa học vừa làm. Và chỉ 1 năm sau toàn thành phố đã có 8 trường BTVH thanh thiếu niên từ số 1 đến số 8 đã được thành lập. Sau này, có thêm nhiều trường BTVH được thành lập ở các quận huyện thu hút hàng vạn em vào học BTVH cấp 3, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và đặc biệt đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Trong khi đó, cách không xa trung tâm thành phố Hà Nội, với phương châm “cần gì học nấy”, nội dung học tập thiết thực, công tác BTVH tại Hà Tây đã động viên được nhiều đối tượng tham gia, chủ yếu là cán bộ xã, hợp tác xã, cán bộ, công nhân viên các cơ quan trình độ văn hóa còn thấp. Kết quả học tập của mỗi người được đưa vào phần xem xét, đánh giá cán bộ hàng năm. Nhờ đó, phong trào được đẩy mạnh ở Hòa Nam (Ứng Hòa), Yên Sở (Hoài Đức), Hương Sơn (Mỹ Đức), nhà máy cơ khí nông nghiệp, nhà máy len nhuộm (Hà Đông), nông trường An Khánh (Hoài Đức)… Bình quân hàng năm có khoảng 7 vạn người tham gia phong trào bổ túc văn hóa. Những năm 1965, 1966, công tác bổ túc văn hóa có các khẩu hiệu “Tay cày, tay súng”, “tay bút, tay súng”. Bên cạnh các lớp bổ túc văn hóa – kỹ thuật cho thanh niên ở nông thôn, còn có các lơp “Bổ túc văn hóa 3 đảm đang” cho chị em phụ nữ.

Ngành giáo dục thường xuyên trải qua nhiều khó khăn.

Giai đoạn 1994 – 2008: Giáo dục thường xuyên

Những năm 1990, ngành học Bổ túc văn hoá sau hơn 40 năm phát triển với những thành tựu to lớn bước vào khủng hoảng trầm trọng. Trong hàng loạt vấn đề, nổi cộm lên là sự giảm sút nhanh về số lượng người học. Có trường số học viên gần bằng số giáo viên. Ở một vài địa phương xuất hiện những dấu hiệu tan vỡ từng mảng. Tình thế của ngành học BTVH lúc đó có thể khái quát lại là: những cái vốn có đã trở nên cũ, đang bị cuộc sống vượt qua, cái cần có thì chưa kịp xây dựng. Ngành học này còn tồn tại được hay không? Đó là nỗi lo lắng của những người làm công tác bổ túc văn hóa.

Sau vài năm tìm hướng đi mới, năm 1994, mô hình GDTX tại Hà Nội đã ra đời nhằm đáp ứng những yêu cầu khách quan đặt ra từ cuộc sống. Sở GD&ĐT đã tham mưu với UBND Thành phố chuyển 4 trường BTVH vừa học vừa làm và 1 trường BTVH tập trung thành Trung tâm Giáo dục thường xuyên của các quận. Đó là các TT GDTX Ba Đình, Nguyễn Văn Tố (quận Hoàn Kiếm), Việt Hưng (huyện Gia Lâm), Đông Anh, Sóc Sơn. 5 Trung tâm đầu tiên của Hà Nội đã bám sát những nhiệm vụ được giao, phối hợp với các cơ quan đoàn thể điều tra, nắm bắt, vận động, tổ chức các hình thức học tập phù hợp với đối tượng theo yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương như: xoá mù chữ, giáo dục dân số, môi trường, thực hành kỹ thuật nghề nghiệp vào lao động sản xuất đáp ứng yêu cầu học tập rộng rãi của mọi người đỡ đầu các nhóm học viên học tập theo phương thức “đào tạo từ xa”.

Khác với nhà trường trong hệ thống giáo dục chính quy, phương thức hoạt động của TTGDTX đa dạng. Các trung tâm phối hợp với nhiều cơ sở giáo dục để dạy chữ với các trình độ từ xóa mù chữ đến phổ thông, đại học; dạy các nghề mà nhu cầu xã hội cần, rồi bồi dưỡng nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân như các kiến thức y tế, thú y, trồng trọt, rồi các kiến thức kinh tế, chính trị, xã hội… Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa học vừa làm, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội, xây dựng xã hội học tập.

Sau 10 năm xây dựng và phát triển, đến năm 2005, Hà Nội đã có 14 TT GDTX ở 13 quận huyện. Các TT GDTX thực hiện các chương trình giáo dục với nội dung hết sức phong phú, đã góp phần chống mù chữ và hoàn thành xoá mù chữ cho 12.000 người dân, 8.500 người đã tốt nghiệp bổ túc tiểu học, trên 20 vạn người đã tốt nghiệp bổ túc THCS và bổ túc THPT, hơn 70 vạn lượt người đã theo học các lớp chuyên đề về chính trị, kinh tế, thời sự, xã hội, kỹ thuật nông nghiệp, chăn nuôi... Đến năm 2008, ta có 16 trung tâm GDTX. Trong đó có một số trung tâm GDTX mới được thành lập như Đình Xuyên, Thanh Trì, Hoàng Mai, Thanh Xuân. Ngoài ra còn có 4 trường bổ túc văn hóa và 4 khoa bổ túc văn hóa trong các trường năng khiếu.

Trong tiến trình phát triển của Giáo dục thường xuyên Hà Nội riêng và ngành GDTX cả nước nói chung có một dấu mốc quan trọng. Đó là năm 1997 khi Bộ GD&ĐT ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của TT GDTX quận, huyện được thay thế cho bản Quy chế được ban hành năm 1992. Quy chế mới này đã đánh dấu bước phát triển mới về pháp lý và nhận thức của các cấp quản lý giáo dục. Nội dung quan trọng nhất của bản Quy chế này là xác định được vị trí tương đương của TT GDTX với các trường THPT. Việc xác định vị trí tương đương đó về cơ bản đã tháo gỡ được một số vướng mắc chủ yếu ở cơ sở để phát triển. Sau này, để tháo gỡ những bất cập từ thực tế hoạt động của các TT GDTX, Bộ GD&ĐT đã có quyết định số 43/2000/QĐ-BGD&ĐT về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của TT GDTX. Văn bản này đã hoàn chỉnh về mặt pháp lý mô hình TT GDTX trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Nói về GDTX Hà Nội, ông Nguyễn Thế Mỹ - nguyên Trưởng phòng Giáo dục thường xuyên cho biết: Hà Nội không chỉ đi đầu trong việc phát triển các trung tâm GDTX mà còn tiên phong trong việc đưa ra các mô hình Trung tâm Học tập cộng đồng (TT HTCĐ) xã phường cũng được thí điểm xây dựng và phát triển rộng khắp. Năm 1994, TT HTCĐ đầu tiên của Hà Nội ra đời tại xã Xuân Đỉnh (Từ Liêm), tiếp đến TT HTCĐ xã Dịch Vọng năm 1995. Từ đó đến nay mô hình này được phát triển mạnh mẽ ở khắp các quận huyện, được các chính quyền địa phương nhận thức đầy đủ là một mô hình giáo dục mới, một địa điểm học tập suốt đời của mọi người dân tại cộng đồng, do nhân dân địa phương mà đại diện là UBND xã phường, thị trấn đứng ra thành lập và tự quản lý. Chỉ sau 10 năm xây dựng và phát triển, Hà Nội đã có 73 TT HTCĐ xã phường.

Theo ông Ngô Doãn Chấn – Nguyên Trưởng phòng GDTX những năm 1990 – 2000, Hà Nội còn đi đầu cả nước trong việc tổ chức mô hình giáo dục từ xa những năm 1998 để tổ chức dạy từ xa cho cán bộ, nhân dân. Theo chương trình này, người dân sẽ được học trên truyền hình.

Tại Hà Tây, ngành bổ túc văn hóa vẫn phát huy vai trò quan trọng trong việc tiếp tục xóa nạn mù chữ và nâng cao trình độ văn hóa cho cán bộ, nhân dân. Bên cạnh đó, các trung tâm GDTX cũng lần lượt được mở ra. Tính đến năm 1995, toàn tình đã có 14 trung tâm giáo dục thường xuyên, làm nhiệm vụ xóa mù chữ theo độ tuổi cho hơn 8 nghìn người, dạy bổ túc văn hóa và tại chức cho trên 5000 học viên.

Nhiều tấm gương thầy cô giáo tâm huyết, sáng tạo

Từ năm 2008 đến nay: Hợp nhất và phát triển

Sau khi Hà Nội mở rộng địa giới hành chính, năm 2008, quy mô mạng lưới giáo dục thường xuyên phát triển mạnh mẽ. Các trung tâm GDTX và các trường bổ túc văn hóa của các địa bàn mới hợp nhất giờ thuộc Sở GD&ĐT Hà Nội quản lý. Đến nay, GDTX Hà Nội có quy mô lớn nhất toàn quốc với 31 trung tâm GDTX; 80 trung tâm ngoại ngữ, tin học. Đặc biệt, tất cả 577 xã phường, thị trấn đều có trung tâm học tập cộng đồng. Cùng với đó, biên chế giáo viên, nhân viên được bổ sung, các chính sách đối với ngành học giáo dục thường xuyên được quan tâm, cơ sở vật chất, các điều kiện phục vụ dạy và học được tăng cường đầu tư.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, ngành GDTX gặp phải nhiều khó khăn. Đội ngũ giáo viên được tăng cường nhưng chưa đồng bộ, số lượng giáo viên biên chế còn ít. Bên cạnh đó, vướng mắc lớn nhất mà ngành học này gặp phải là công tác tuyển sinh. Dường như chỉ có ngành học GDTX mới có tình trạng thầy phải đi tìm trò. Có lẽ vì thế mà những người làm giáo dục vẫn khẳng định rằng, không tâm huyết không thể công tác được trong ngành học GDTX.

Tiếp tục phát huy truyền thống sáng tạo, GDTX Hà Nội là đơn vị tiên phong trên toàn quốc thực hiện kết hợp dạy kiến thức và dạy nghề, đơn vị đầu tiên thực hiện là TT GDTX Đông Mỹ. 10 năm qua, với sự kết hợp dạy văn hóa với dạy nghề, bao thế hệ học viên ra trường vừa có bằng bổ túc văn hóa, vừa có bằng nghề để đi làm. Mô hình này sau đó đã được Bộ GD&ĐT nghiên cứu và triển khai ở các trung tâm khác trên toàn quốc. Đến nay, nhiều trung tâm đã tổ chức mô hình vừa dạy văn hóa kết hợp với dạy trung cấp nghề. Cùng với đó, GDTX Hà Nội cũng là đơn vị đầu tiên của cả nước thực hiện thí điểm dạy chương trình giáo dục phổ thông trong trung tâm GDTX. Hiện nay, Hà Nội có tổng số 17.795 học viên theo học Bổ túc THPT, 44.683 học viên học nghề và gần 9 nghìn học viên theo học trung cấp nghề.

Nói về công tác GDTX trong giai đoạn hiện nay, Trưởng phòng GDTX Kiều Văn Minh cho biết: “Những năm qua, ngành GDTX Hà Nội tiếp tục củng cố, phát triển mạng lưới GDTX; đẩy mạnh các hoạt động xây dựng xã hội học tập từ cơ sở; tăng cường công tác chống mù chữ, củng cố vững chắc kết quả chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; tăng cường các biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học, đồng thời đa dạng hóa hình thức, chương trình, phương pháp và cách thực hiện. Đến nay, tất cả các TT GDTX thực hiện việc dạy văn hóa và dạy hướng nghiệp nghề cho học sinh, học viên. Các TT GDTX đã tạo điều kiện tối đa cho học viên và nhân dân lao động học nghề. Năm học 2012 – 2013, số học viên học nghề ngắn hạn là hơn 15 nghìn người, số học viên học hướng nghiệp nghề phổ thông là 25.814 học viên. Mỗi năm, có gần 1 triệu lượt người theo học các chuyên đề đáp ứng nhu cầu người học tại các cơ sở GDTX. Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, hàng năm, Sở GD&ĐT cũng tổ chức các kỳ thi GVDG, học viên giỏi. Nhiều học viên sau đó, đạt giải cao trong các kỳ thi cấp quốc gia. Các trung tâm ngoại ngữ, tin học, bồi dưỡng văn hóa cũng đã tạo điều kiện học tập cho mọi người dân. Năm qua, các trung tâm đã thu hút gần 13 nghìn người tham gia học tập”.

60 năm qua, đội ngũ CBQL, giáo viên ngành học GDTX Hà Nội đã không ngừng nỗ lực khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Bằng trí thức vốn có và tấm lòng nhiệt huyết của mình, họ đã có những đóng góp không nhỏ trong việc nâng cao dân trí cho nhân dân Thủ đô. Từ những lớp bình dân học vụ, bổ túc văn hóa rồi tiến lên giáo dục thường xuyên, ngành học này đã tạo cơ hội học tập cho mọi đối tượng, mọi tầng lớp xã hội, ai có nhu cầu học tập đều tìm thấy ở đó một tổ chức hoạt động giáo dục có nội dung học, hình thức học mà mình hài lòng nhất, giúp mình có thêm những hiểu biết cần thiết để hoà nhập với cộng đồng, mưu cầu hạnh phúc. Những cán bộ quản lý, giáo viên GDTX tận tụy, tâm huyết mãi xứng đáng với bốn chữ “Vô danh anh hùng” bởi trong xã hội hiện đại ngày nay không ít giáo viên GDTX vẫn phải đến từng thôn, xóm, từng khu phố để vận động người lao động đi học, đến các bệnh viện, nhà tù để dạy chữ. Mỗi ngày trôi qua, khi màn đêm buông xuống, thành phố sắp đi ngủ thì tiếng trống trường lại vang lên báo hiệu một buổi học mới của thầy và trò và từ những lớp học ấy, ánh sáng tri thức lan tỏa để mai này thắp sáng những tương lai.

Toàn – Thắng (Theo Tạp chí Giáo dục Thủ đô số 53+54, tháng 5, 6/2014)

Ý kiến bạn đọc (0)

Viết ý kiến của bạn
 
Thăm dò ý kiến

Bạn thích nhất chuyên mục nào trên Tạp chí Giáo dục Thủ đô ?
  • Vấn đề - Sự kiện
  • Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vu
  • Gia đình - Nhà trường - Xã hội
  • Gương mặt cơ sở
  • Có thể bạn chưa biết
  • Văn hóa - Văn nghệ