Ngày đăng:   Thứ 4, 03-09-2014 16:11:35   /   Lượt đọc: 4914

Giáo dục Trung học: Rạng ngời khí phách “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”

(GDTĐ) - Lịch sử 60 năm đã chứng minh tinh thần dân tộc và tình yêu nước mãnh liệt của thầy và trò ngành giáo dục Trung học Thủ đô Hà Nội. Khi tổ quốc lâm nguy, lớp lớp thầy trò Thủ đô đã gác bút nghiên, hăng hái lên đường ra mặt trận giữ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Trong thời bình, thầy và trò lại phấn đấu không ngừng để giáo dục Thủ đô luôn dẫn đầu cả nước, để mảnh đất Thăng Long mãi là chiếc nôi, là bệ phóng vững chắc cho hiền tài quốc gia.

Gác bút nghiên lên đường chiến đấu (1954 – 1975)

Giải phóng Thủ đô năm 1954 là bước ngoặt lớn đối với ngành giáo dục Hà Nội khi chuyển từ nền giáo dục của thực dân – chủ yếu phục vụ cho thiểu số giai cấp thống trị sang nền giáo dục của dân, do dân và vì lợi ích nhân dân. Để động viên và khích lệ phong trào học tập tại Thủ đô Hà Nội cũng như cả nước, ngày 18/12/1954, Bác Hồ đã về thăm và làm việc với các trường phổ thông: Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Trưng Vương. Bác nói: “Ngày nay đất nước được độc lập, tự do, thanh niên mới thực sự là người chủ tương lai của đất nước. Muốn xứng đáng với vai trò của người chủ thì phải học tập”. Thực hiện lời dạy của Bác, nhân dân Thủ đô hăng hái tham gia các lớp học để xóa giặc dốt. Người biết chữ dạy người chưa biết chữ. Những học sinh phổ thông trung học tích cực tham gia dạy chữ cho những người chưa được đi học. Dù điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn nhưng tinh thần học tập được dâng cao hơn bao giờ hết.

Bác Hồ về thăm trường Chu Văn An ngày 18/12/1954

Nói về giáo dục Thủ đô thời gian này, ông Hàn Liên Hải – Nguyên trưởng phòng Giáo dục Trung học Hà Nội cho biết: Khi mới tiếp quản Thủ đô, số lượng các trường học ở Hà Nội chưa nhiều. Cụ thể, trường cấp III của cả thành phố chỉ đếm đầu ngón tay, trong đó có thể kể đến trường Chu Văn An, phổ thông Ba, và một vài trường nữa. Số trường PTCS cũng không nhiều, cả quận, huyện cũng chỉ có một vài trường.

Hai năm sau giải phóng Thủ đô, năm 1956, đất nước tiến hành cải cách giáo dục lần thứ 2 để thống nhất lại nền giáo dục trong kháng chiến với nền giáo dục trong vùng địch tạm chiếm. Nền giáo dục phổ thông lúc này có 10 năm thay vì 9 năm như thời kháng chiến. Trong đó, cấp I có 4 năm (không kể lớp vỡ lòng); cấp II có 3 năm; và cấp III có 3 năm. Không thực hiện phân ban nhưng trong giai đoạn này đã bắt đầu thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường phổ thông: trường gắn với việc chuẩn bị nghề cho học sinh (cấp III nông nghiệp, cấp III công nghiệp, thanh niên vừa học vừa làm); trường cho HS có năng lực chuyên môn vượt trội; trường cho HS dân tộc ít người.

Được học tập trong điều kiện hòa bình và tích cực hưởng ứng công cuộc đổi mới mà Đảng và nhà nước thực hiện, giáo dục Hà Nội đã có những bước phát triển mạnh. Phong trào thi đua “Hai tốt” diễn ra sôi nổi ở tất cả các trường học. Sau 10 năm xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục trong hòa bình, nhiều điểm sáng đã xuất hiện như trường cấp I Phú Thị, cấp II Dịch Vọng, cấp III Xuân Đỉnh, Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Đống Đa và trường phổ thông công nghiệp Hà Nội…

Trong khi đó, chủ trương “tận lực phát triển giáo dục” của Bộ GD&ĐT đề ra năm 1959 đã tạo điều kiện cho ngành học phổ thông Hà Tây phát triển mạnh. Toàn tỉnh đã có số học sinh cấp II tăng 5 lần so với năm 1956 và đã có gần 400 học sinh cấp III. Đặc biệt, trường Thường Tín, trường cấp III đầu tiên của tỉnh ra đời đánh dấu bước phát triển mới của giáo dục bởi từ đây, học xong cấp II, học sinh đã có trường cấp III để tiếp tục học tập và không phải lên Hà Nội học. Đáng chú ý, Thường Tín là trường cấp III đầu tiên của Hà Đông, đồng thời cũng là một trong những trường cấp III đầu tiên của vùng nông thôn miền Bắc. Vì vậy, học sinh không chỉ có ở Hà Đông mà còn có cả ở Sơn Tây, Hòa Bình và phía bắc Hà Nam (cũ) về học. Những ngày mới thành lập, thầy trò đa số ở trọ và tự lo sinh hoạt. Đêm đến, ngọn đèn dầu cùng thầy cô soạn bài, thắp sáng cho học sinh học tập.

Những năm 1959 – 1960, mỗi huyện đều phấn đấu có một trường cấp II, tăng cường đào tạo giáo viên các cấp với mục tiêu xây dựng mỗi trường học là một “pháo đài xã hội chủ nghĩa”, đào tạo học sinh thành những “công dân tốt”, “lao động tốt”, “cán bộ tốt”. Trong những ngày nghỉ hè, nhà trường tổ chức cho học sinh tham gia lao động với các hợp tác xã nông nghiệp như gặt lúa, chống hạn hay dạy bổ túc văn hóa cho nông dân. Thày trò trường cấp III Sơn Tây đã tham gia xây dựng công trình thủy lợi Suối Hai. Trường cấp II Phú Châu (Quảng Oai) đã tổ chức dạy học sinh đan cót, làm nón để tăng thu nhập, bớt phần đóng góp. Cũng trong giai đoạn này, những năm 1960 bắt đầu phong trào thi đua “Hai tốt”. Ngay từ những năm đầu thi đua với “Bắc Lý” đã có những tấm gương sáng. Năm 1965, hệ chuyên toán đặt tại trường phổ thông cấp III Nguyễn Huệ ra đời nhằm tập trung những em có năng khiếu về Toán.

Trong lịch sử 60 năm phát triển của giáo dục Thủ đô, thầy và trò ngành giáo dục không chỉ đóng góp trong việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài mà còn trực tiếp tham gia đánh giặc, bảo vệ Tổ quốc. Khi Tổ quốc lâm nguy, bao thầy, trò đã tình nguyện gác bút nghiên, xa mái trường thân yêu để lên đường chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Không ít người đã ra đi mãi mãi, bỏ lại xương máu nơi sa trường vì lý tưởng, vì độc lập tự do. Ca khúc “Tiễn thầy đi bộ đội” của nhạc sĩ Phạm Tuyên mỗi lần vang lên đều khiến mỗi người Hà Nội xúc động và tự hào. Những lá thư gửi lại Thủ đô đều thể hiện ý chí sắt đá vượt qua mọi hiểm nguy, quyết tâm đánh thắng giặc xâm lược rồi sẽ trở về Hà Nội tiếp tục học, tiếp tục nghề giáo cao quý. Với tri thức của mình, tại những vùng kháng chiến, thầy trò vẫn tiếp tục trau dồi kiến thức, dạy chữ cho nhân dân địa phương. Dù mọi gian khổ vẫn không vùi dập được tinh thần hiếu học, nhiệt huyết nghề giáo của thầy và trò Hà Nội anh hùng.

Trong giai đoạn Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc những năm 1965 đến 1972, không ít trường học của Thủ đô bị bom Mỹ tàn phá. Hầu hết các trường học ở nội thành phải sơ tán về các huyện Hoài Đức, Thanh Oai, Chương Mỹ, Thạch Thất, Thường Tín, Phú Xuyên, Ứng Hòa, Mỹ Đức của tỉnh Hà Tây. Thầy và trò về sơ tán đều được nhân dân đón tiếp chu đáo, giúp đỡ tận tình. Ở những nơi sơ tán, hàng ngày các thầy cô giáo vẫn đến lớp, hướng dẫn các em học sinh học ngoại khóa hay tham gia lao động sản xuất, cấy lúa, làm ruộng… Thầy trò còn tham gia công tác tuyên truyền những chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước hay thông tin về những thắng lợi của quân và dân ta ở hai miền Nam Bắc. Nhờ những phong trào, giải pháp như vậy nên nếu như sau giải phóng Thủ đô 1954, tại Hà Tây cứ 15 người mới có 1 người đi học thì đến 1975, cứ 4 người đã có 1 người đi học. Riêng số học sinh cấp II tăng gần 79%.

“Bùng nổ” số lượng (1975 – 2000)

Khi người lính Mỹ cuối cùng lên máy bay rời khỏi Việt Nam, đất nước thống nhất cũng là thời điểm nhân dân cả nước bước vào một mặt trận mới, mặt trận tái thiết và xây dựng tổ quốc trên đống đổ nát do chiến tranh để lại. Để phát triển đất nước thì cần có tri thức và như vậy mặt trận giáo dục được đặc biệt quan tâm. Theo ông Hàn Liên Hải, đây là giai đoạn “bùng nổ” về số lượng. Chất lượng giáo dục lúc này cũng được chú trọng, trong đó đặc biệt là truyền tải kiến thức cho học sinh. Khi số lượng đông thì bài toán quan hệ về số lượng và chất lượng cũng bắt đầu đề ra cho ngành giáo dục Thủ đô. Thêm vào đó, giai đoạn này chứng kiến sự thay đổi lớn về quy mô giáo dục của Thủ đô trong những lần điều chỉnh địa giới hành chính. Sau lần điều chỉnh địa giới hành chính lần thứ hai (năm 1978), Phòng giáo dục Phổ thông của Hà Nội phải quản lý thêm nhiều trường học ở các quận huyện ngoại thành như Mê Linh, Đan Phượng, Thạch Thất, Ba Vì, Thị xã Sơn Tây, Hoài Đức, Phúc Thọ, Sóc Sơn.

Từ ngày 11/1/1979, cùng với cả nước, giáo dục phổ thông Hà Nội được nâng lên 12 năm theo Nghị quyết số 14-NQ/TW. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3 đã điều chỉnh chương trình giáo dục phổ thông thành 2 bậc: phổ thông cơ sở 9 năm và phổ thông trung học 3 năm. Bộ Giáo dục đã tổ chức thí điểm phân hóa theo hình thức phân ban bậc THPT. Thí điểm lần thứ nhất (1989-1991): phân ban hẹp từ lớp 10 với 5 ban. Thí điểm lần thứ hai (1993-2000): phân ban rộng từ lớp 10 với 3 ban.

Phòng giáo dục Trung học giai đoạn này vẫn chưa ra đời. Thay vào đó, công tác quản lý giáo dục cấp I, cấp II đến cấp III từ năm 1954 cho đến năm 1990 do phòng giáo dục phổ thông phụ trách và NGƯT Hàn Liên Hải là Trưởng phòng giáo dục phổ thông ngày ấy. Ông Hải cho biết, nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục Hà Nội trong giai đoạn này là nâng cao chất lượng giáo dục theo hướng quán triệt mục tiêu giáo dục của các ngành học, bậc học. Phòng phổ thông có “trung tâm phương pháp giáo dục” và đã nghiên cứu nhiều đề tài cấp thành phố, trong đó đáng chú ý là đề tài “Đổi mới phương pháp dạy học” trên tinh thần “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” do ông trực tiếp làm chủ nhiệm. Đề tài này đã trực tiếp đề cập đến bài toán chất lượng và số lượng, đổi mới cách dạy học, cách thức tổ chức thi giáo viên giỏi… với mục tiêu là nâng cao chất lượng giáo dục.

Thời gian này rất nhiều ngôi trường Hà Nội đã được khai sinh. Trong đó, đáng chú ý là lễ khai giảng khóa học đầu tiên của trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam ngày 5/9/1985. Học sinh của trường lúc ấy bao gồm khối chuyên Toán của trường Chu Văn An; chuyên Văn, chuyên Lý của trường Việt Đức; chuyên Nga, Anh, Hóa của trường Lý Thường Kiệt; chuyên Sinh của trường Ba Đình chuyển về. Kinh phí xây dựng trường là món quà đặc biệt của nhân dân Thủ đô Amsterdam, Hà Lan tặng. Trong những ngày tháng ác liệt nhất năm 1972, khi B52 dội bom hòng hủy diệt Hà Nội, nhân dân thủ đô Amsterdam đã vô cùng lo lắng và mong muốn làm một điều gì đó cho Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung. Ngài Thị trưởng, tiến sĩ Samkaden đã vận động nhân dân Amsterdam quyên góp để xây cho Hà Nội một ngôi trường cấp III đàng hoàng, to đẹp sau ngày chiến thắng. Kết quả của nghĩa cử đó là trường THPT mang tên Hà Nội - Amsterdam ra đời. Ngôi trường này đã trở thành chiếc nôi đào tạo nhân tài nổi tiếng của Thủ đô và cả nước.

Đến năm học 1991 – 1992, quy mô giáo dục của Hà Nội lại thay đổi sau khi các huyện Ba Vì, Thạch Thất, Đan Phượng, Phúc Thọ, Hoài Đức thị xã Sơn Tây được nhập vào Hà Tây trong lần điều chỉnh địa giới Thủ đô lần thứ 3. Với Hà Tây, sau lần điều chỉnh này, số học sinh đông lên, cùng với đó nội dung học tập cũng phong phú hơn. Ngoài các bộ môn văn hóa cơ bản còn có các môn giáo dục dân số, kế hoạch hóa gia đình, vệ sinh môi trường, pháp luật, quốc phòng, phòng chống HIV – AIDS, giáo dục lao động sản xuất, hướng nghiệp và dạy nghề… Ngoài ra, học sinh còn được học nghề mây tre đan, nghề mộc, may, học vi tính, sửa chữa xe máy… Đến năm 1995, tỉnh đã có 12 hệ chuyên ở phổ thông trung học. 10/14  huyện có trường chuyên, có 8 trường chuyên ban THPT, có hơn 100 máy vi tính trang bị cho gần 20 trường, có 8 trung tâm tổng hợp hướng nghiệp dạy nghề.

Đổi mới chương trình, nâng cao chất lượng (2000 – 2008)

Trong lịch sử 60 năm phát triển của ngành học trung học Thủ đô có nhiều dấu mốc đáng nhớ. Trong đó phải kể đến năm 2000, khi Quốc hội ban hành Nghị quyết số 40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Mục tiêu của việc đổi mới là xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam; tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và thế giới.

Việc đổi mới chương trình, SGK THCS bắt đầu được thực hiện từ năm 2000. Có thể nói giáo dục phổ thông Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung đã thực hiện một cuộc ra quân lớn mở đầu là đổi mới ở cấp THCS. Công tác chỉ đạo của phòng GDTrH trong việc thực hiện những chủ trương lớn của Đảng và nhà nước về giáo dục, những nội dung của mục tiêu giáo dục đòi hỏi mỗi cán bộ, chuyên viên của phòng sự tinh thông về chuyên môn, sự nhạy bén trong công tác nắm bắt tình hình ở các các cơ sở để cùng tháo gỡ những khó khăn trong việc tiếp cận, xây dựng kế hoạch cụ thể cho các hoạt động giáo dục. Những đợt sinh hoạt chuyên môn, hoạt động chuyên đề được tổ chức đã thực sự đã đem lại một không khí làm việc nghiêm túc nhưng cũng không kém phần hào hứng. Sau này, nhiều giáo viên vẫn còn kể về những “sự kiện” chuyên môn đó như những kỷ niệm đáng nhớ nhất trong cuộc đời dạy học của mình.

Sau khi hoàn thành việc đổi mới chương trình, SGK cấp THCS, phòng GDTrH lại tiến hành một cuộc ra quân mới để thực hiện việc thay đổi chương trình, SGK cấp THPT. Những kinh nghiệm từ công việc này ở bậc THCS rõ ràng đã tạo tiền đề thuận lợi để phòng tiếp tục thực hiện ở THPT. Đồng chí Đào Ngọc Nam mặc dù bận nhiều công việc của một trưởng phòng vẫn tham gia biên soạn SGK môn Toán, hầu hết cán bộ chuyên viên của phòng đã trực tiếp tham gia thẩm định SGK, biên soạn tài liệu tập huấn, tài liệu tham khảo cho chương trình đổi mới. Đây là một niềm vinh dự cho đội ngũ giáo viên Thủ đô bởi không nhiều giáo viên của cả nước được tham gia vào công tác biên soạn, thẩm định sách giáo khoa của Bộ GD&ĐT.

Phòng giáo dục Trung học Hà Nội cũng đã tiến hành nghiên cứu và bảo vệ thành công nhiều đề tài khoa học cấp thành phố.  Trong đó phải kể đến hai đề tài nghiên cứu về đổi mới chương trình; xây dựng tiêu chí phổ cập bậc trung học do nguyên Phó giám đốc Sở GD&ĐT Hà Nội Lê Đình Lập chủ nhiệm. Hai đề tài khác là nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Mỹ thuật, Âm nhạc và xây dựng câu lạc bộ thể thao tự chọn trong các trường phổ thông do nguyên Trưởng phòng giáo dục Trung học Đào Ngọc Nam chủ nhiệm.

3 học sinh Việt Nam đoạt giải Nhất Intel Isef quốc tế năm 2012

Hợp nhất và những vinh quang (từ 2008 đến nay)

Năm 2008, việc mở rộng địa giới hành chính theo Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH12 của Quốc hội đồng nghĩa với sự lớn mạnh về quy mô giáo dục của Thủ đô. Trước khi mở rộng, ngành GD&ĐT Thủ đô có 1.050 trường và 234 trung tâm học tập cộng đồng, với 18.308 lớp (trong đó, ngoài công lập có 365 trường, 5.121 lớp). Sau khi mở rộng, toàn Thành phố có 2.303 trường (trong đó, công lập có 1.703 trường, ngoài công lập có 600 trường ), 37.295 phòng học với 1.342.841 học sinh và 72.814 giáo viên các cấp học, ngành học. Trong đó, Giáo dục Trung học có 584 trường THCS (579 trường công lập, 05 trường ngoài công lập); 182 trường THPT (công lập 104 trường; ngoài công lập: 78 trường). Với vị trí là Thủ đô của cả nước, ngành Giáo dục và Đào tạo Hà Nội đòi hỏi sự cố gắng, nỗ lực rất lớn của toàn thể đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên và học sinh để đáp ứng được những yêu cầu phát triển mới của Thủ đô.

Những ngày đầu mới hợp nhất, điều kiện cơ sở vật chất khó khăn ở các huyện, thị với rất nhiều phòng học cấp 4, chưa được kiên cố hóa, tình trạng thiếu phòng học bộ môn, thiếu thư viện, khu luyện tập thể chất… Thêm vào đó là sự không đồng đều về chất lượng đội ngũ giáo viên, và chất lượng giáo dục toàn diện giữa các vùng miền…

Tuy nhiên, với hàng loạt các biện pháp với mục tiêu chung là nâng cao chất lượng giáo dục nên ngành đang từng bước vượt qua được những khó khăn này và đạt được nhiều kết quả ấn tượng, được thể hiện qua những “con số biết nói”. Cụ thể là số lượng và chất lượng giải HSG quốc gia tăng lên từng năm học. Năm học 2008 – 2009 đạt 107 giải; năm học 2009 – 2010 đạt 118 giải;  năm học 2010 – 2011 đạt 130 giải; năm 2011 – 2012 đạt 125 giải (tăng 6 giải Nhất so với năm học trước); năm 2012 – 2013 đạt 130 giải (tăng 5 giải so với năm học trước), đứng đầu toàn quốc về số lượng giải và số giải Nhất và năm học 2013 – 2014 đạt 137 giải và tiếp tục dẫn đầu về số lượng và chất lượng giải.

Học sinh Thủ đô đã mang lại vinh quang cho Việt Nam trên đấu trường quốc tế. Sau 5 năm hợp nhất, các đoàn học sinh Hà Nội tham dự các kỳ thi Olympic quốc tế đạt kết quả cao với tổng số 31 giải, trong đó có 10 huy chương bạc; 21 huy chương Đồng. Năm học 2013 – 2014 này, học sinh Thủ đô giành 3HCV, 2HCB, 4HCĐ Olympic Toán quốc tế THCS; 1HCV, 1HCB Olympic Vật lý châu Á; 1HCV Olympic Vật lý quốc tế; 1HCB Olympic Sinh học quốc tế; 2 HCV tại Olympic Hóa học quốc tế...

Đặc biệt, năm 2012, lần đầu tiên đại diện cho Việt Nam tham dự Hội thi nghiên cứu khoa học và kỹ thuật dành cho học sinh phổ thông (Itel ISEF) tổ chức tại Mỹ, học sinh Hà Nội đã đoạt giải Nhất quốc tế thuộc lĩnh vực Kỹ thuật điện và Cơ khí; năm 2013, đoàn học sinh Hà Nội giành giải Tư quốc tế tại kỳ thi Itel ISEF. Năm học 2013 – 2014, Hà Nội có 162 học sinh tham dự kỳ thi HSG toàn quốc và có 137 học sinh đạt giải, 6 học sinh Hà Nội tham gia kỳ thi khoa học trẻ IJSO và giành 1 huy chương Vàng, 5 huy chương Bạc, 90 đề tài của 44 trường (17 THCS, 27 THPT) tham gia kỳ thi khoa học kỹ thuật có 12 đề tài thi quốc gia.

Việc xóa bỏ các phòng học cấp 4, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia đã không chỉ tạo điều kiện đổi mới dạy học mà còn làm cho nhà trường trở thành một địa chỉ văn hóa của nhân dân các địa phương. Đến năm 2013 đã có hơn 300/tổng số hơn 800 trường THCS, THPT đã đạt chuẩn quốc gia. Đây là điều kiềm thuận lợi để các trường đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học.

Trưởng phòng Giáo dục Trung học Phạm Hữu Hoan cho biết: Nhân tố có ý nghĩa quyết định chất lượng giáo dục trong các nhà trường chính là đội ngũ cán bộ quản lý am tường về chuyên môn, tinh thông về nghiệp vụ, là đội ngũ giáo viên đứng lớp nhiệt huyết, có tinh thần tự học, tự bồi dưỡng. Để khuyến khích giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, nhiều cuộc thi giáo viên dạy giỏi các môn học đã được tổ chức hiệu quả. Tính từ năm 2008 đến nay, hàng chục ngàn giáo viên đã được tập huấn về chuẩn kiến thực – kỹ năng môn học, về các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực, về việc khai thác, sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, tích hợp giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong dạy học các môn khoa học xã hội, nhân văn, tích hợp giáo dục môi trường, phương pháp bàn tay nặn bột… hàng trăm giáo viên đã được công nhận giáo viên dạy giỏi cấp thành phố ở tất cả các môn học.

Đặc biệt, năm 2011, ngành giáo dục Thủ đô đã hoàn thành việc biên soạn, thẩm định bộ tài liệu Giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho học sinh THCS và THPT. Thực tế giảng dạy bộ tài liệu ở các nhà trường cho thấy ý nghĩa, vai trò của việc giáo dục nếp sống người Hà Nội đến học sinh Thủ đô và được các nhà trường, các bậc phụ huynh ủng hộ. Đây là bộ tài liệu quý, có ý nghĩa rất lớn và được nhiều địa phương khác trên cả nước tham khảo, học hỏi. Bên cạnh đó, các hoạt động giáo dục đạo đức, hướng nghiệp, giáo dục pháp luật, văn minh đô thị đang được đẩy mạnh trong các nhà trường với nhiều hoạt động phong phú, có ý nghĩa thiết thực. Việc đổi mới dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá cũng được đẩy mạnh theo chiều sâu.

Công tác đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục hiện nay đang đặt ra cho ngành giáo dục Thủ đô nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức. Đơn cử như mục tiêu xây dựng được từ 50% đến 55% số các trường THCS, THPT đạt chuẩn quốc gia vào năm 2015 không dễ để thực hiện. Tuy nhiên, truyền thống “dạy tốt – học tốt” đã được tạo lập trong 60 năm qua, cộng với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực không ngừng nghỉ của thầy và trò Thủ đô sẽ là sức mạnh tổng hợp đưa giáo dục Trung học vượt qua những khó khăn để tiếp tục giữ vững chất lượng giáo dục đại trà, nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn. Để các em học sinh tiếp tục mang về những giải thưởng vinh quang cho Việt Nam trên đấu trường quốc tế, và hơn hết góp sức vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Nhóm PV (Theo Tạp chí Giáo dục Thủ đô số 55, tháng 8/2014)

Ý kiến bạn đọc (0)

Viết ý kiến của bạn
 
Thăm dò ý kiến

Bạn thích nhất chuyên mục nào trên Tạp chí Giáo dục Thủ đô ?
  • Vấn đề - Sự kiện
  • Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vu
  • Gia đình - Nhà trường - Xã hội
  • Gương mặt cơ sở
  • Có thể bạn chưa biết
  • Văn hóa - Văn nghệ