Ngày đăng:   Thứ 4, 03-09-2014 15:43:55   /   Lượt đọc: 13802

Giáo dục Tiểu học: Vun đắp trí tuệ, tạo dựng chất lượng

(GDTĐ) - 60 năm qua, trải qua bao thăng trầm của các thời kỳ, cấp học giáo dục Tiểu học Hà Nội vẫn vững bước đi lên. Tiếng máy bay, tiếng bom dội không làm nản chí thầy trò. Điều kiện thiếu thốn trăm bề không ngăn nổi quyết tâm thi đua dạy tốt – học tốt. Để rồi, từ trong gian khó, biết bao điển hình tiên tiến, bao phong trào sáng tạo đã ra đời, cùng cả nước diệt giặc dốt, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, vun đắp trí tuệ, tạo dựng chất lượng giáo dục toàn diện.

Giờ học của Tổ mộc lớp 4A trường cấp I Lê Ngọc Hân năm 1973

Giai đoạn 1954 – 1990

Sau giây phút hân hoan đón chào các anh bộ đội Cụ Hồ tiến về giải phóng Thủ đô, người dân Hà Nội quay lại nhịp sống lao động và học tập. Các khu phố, huyện ổn định tổ chức trường lớp và đội ngũ giáo viên đón học sinh quay trở lại học tập sau những năm kháng chiến. Hưởng ứng chính sách và lời kêu gọi của chính quyền cách mạng “giải quyết gấp rút những nhu cầu cấp thiết về ăn ở và học tập của nhân dân”, chỉ 5 ngày sau khi tiếp quản Thủ đô, ngày 15/10/1954, các trường tiểu học của Hà Nội đã được mở lại. Các em học sinh náo nức đến trường, bắt đầu năm học đầu tiên sau ngày giải phóng. Kết thúc năm học 1954 – 1955, cả Thủ đô đã có được 101 trường tiểu học với 453 lớp, hơn 37 nghìn học sinh và 459 giáo viên.

Thủ đô được giải phóng trong khi cả nước đang thực hiện cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất được triển khai từ năm 1950. Chương trình giáo dục phổ thông lúc này gồm 9 năm: 4 năm cấp I; 3 năm cấp II và 2 năm cấp III. Đến năm 1956, nước ta tiến hành cải cách giáo dục lần thứ 2 để thống nhất lại nền giáo dục trong kháng chiến với nền giáo dục trong vùng địch tạm chiếm. Chương trình được đổi thành 10 năm thay vì 9 năm như thời kháng chiến. Trong đó, cấp I có 4 năm (không kể lớp vỡ lòng gồm lớp 1, 2, 3, 4); cấp II có 3 năm gồm lớp 5,6,7 ; và cấp III có 3 năm gồm lớp 8,9,10.

Từ năm 1954 cho đến năm 1990, Hà Nội chưa có Phòng giáo dục Tiểu học như hiện nay. Thay vào đó, Phòng giáo dục phổ thông phụ trách các cấp học từ cấp I, cấp II đến cấp III. NGƯT Hàn Liên Hải – Trưởng phòng giáo dục phổ thông ngày ấy nhớ lại: “Phòng giáo dục phổ thông có các tổ cấp 1, cấp II, cấp III. Trong đó, tổ cấp 1 phụ trách giáo dục tiểu học. Ngoài ra còn có các tổ ngoại khóa, phụ trách thể dục vệ sinh…

Để mở rộng quy mô trường lớp, tạo chỗ học cho trẻ em, Hà Nội đã xây mới và sử dụng các căn nhà rộng của tư nhân làm trường học. Điều kiện giảng dạy ở các trường này cũng tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, tại các huyện ngoại thành, điều kiện còn khó khăn khi mà phần lớn các lớp học là nhà cấp 4 hoặc xây dựng bằng tre, nứa lá. Một số nơi đã phải tận dụng đình làng, nhà kho hợp tác xã nông nghiệp để làm nơi dạy học. Một khó khăn khác là đào tạo giáo viên khi mà giáo viên các trường hầu hết chỉ có trình độ sơ cấp sư phạm hoặc có văn hóa cấp 2 phổ thông (lớp 7). Việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm chủ yếu được thông qua các lớp trung học sư phạm hoàn chỉnh. Nhiều địa phương bổ sung thêm đội ngũ giáo viên cấp 1 từ trường trung học sư phạm ( từ hệ 7+3 đến 10+1 và 10+2)”.

Nhà giáo Trịnh Đức Minh – nguyên Phó phòng giáo dục tiểu học cho biết, Hà Nội lúc này tồn tại 2 loại hình trường học là trường công và trường tư. Kế hoạch và nội dung dạy học thống nhất theo chương trình giáo dục của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Học sinh được học các môn cơ bản: Toán, Văn, Khoa học, Lịch sử, Địa lý. Các môn như Thủ công, Nhạc, Họa và Thể dục chủ yếu được dạy ở các trường TH thuộc 4 quận nội thành (trước đây gọi là khu) do giáo viên đứng lớp giảng dạy. Đặc biệt, ở nội thành, các nhà trường còn tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho học sinh vào các ngày thứ Năm và Chủ nhật như tham quan bảo tàng, di tích lịch sử, nhà máy nhiệt điện Yên Phụ, nhà máy điện Bờ Hồ, xưởng gỗ 42, vườn hoa công viên Thống Nhất, vườn Bách Thảo... Nhiều trường TH phối hợp với tổ chức Đoàn, Đội cho học sinh hoạt động tại “Ấu trí viên” (Cung thiếu nhi ngày nay) theo hình thức câu lạc bộ với các lớp hát, nhạc, múa, vẽ, đóng kịch… Những hoạt động này đã thu hút rất nhiều học sinh tham gia”.

Cùng với hệ thống giáo dục chính quy, nhiều lớp học xóa mù chữ cho nhân dân lao động tại các khu phố, cơ quan xí nghiệp trong phong trào “Bình dân học vụ - Bổ túc văn hóa” đã được tổ chức vào 2 buổi tối thứ Hai và thứ Năm. Tại các lớp này, học viên cấp 1 chủ yếu học đọc, viết chữ và làm tính. Người dạy được huy động từ các trường cấp 1 và thanh niên của khu phố làm tình nguyện.

Qua 10 năm phát triển, từ khi Thủ đô được giải phóng đến năm học 1965 – 1966, số trường cấp 1 của Hà Nội đã tăng lên 148 trường, với 2.737 lớp, hơn 106 nghìn học sinh. Và đặc biệt, Hà Nội lúc này đã xây dựng được đội ngũ hơn 2,6 nghìn giáo viên.

Giai đoạn này, Ty giáo dục Hà Đông chuyển từ căn cứ Ứng Hòa, Mỹ Đức về Phương Trung (Thanh Oai), sau lên Bình Đà (Thanh Oai) cuối năm 1954, đến đầu năm 1955 về thị xã Hà Đông. Ty giáo dục Sơn Tây về thị xã cuối năm 1954. Trong sự bộn bề, trăm ngàn khó khăn của vùng mới giải phóng, đại bộ phận trường lớp được mở ra là cấp 1, ở hầu khắp các xã đều có trường cấp 1. Ngành học phổ thông phát triển mạnh, số học sinh cấp 1 năm 1959 tăng gấp 2 lần so với năm 1955, 1956. Hầu như trường cấp 1 nào cũng có phong trào thi đua giành danh hiệu tập thể lao động XHCN, người tốt việc tốt, tuổi nhỏ chí lớn…Thời kỳ đầu, ngành sử dụng khá đông thầy cô giáo trong vùng tạm chiếm, hoặc có biện pháp tạm thời như ở Sơn Tây có lúc phải tuyển mới một số học sinh lớn tuổi học hết lớp 5 để đưa vào trường sư phạm đào tạo gấp rồi cho ra dạy lớp 1…

Những năm 1965 - 1972, Đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc XHCN. Ngành giáo dục Hà Nội đứng trước nhiệm vụ hết sức nặng nề là trong bất kỳ tình huống nào cũng phải tổ chức cho con em nhân dân theo học một cách an toàn. Thực hiện chủ trương sơ tán của thành phố, các trường cấp 1 tại 4 quận nội thành cũ (Hoàn Kiếm, Đống Đa, Ba Đình và Hai Bà Trưng) tạm thời đóng cửa. Các phòng giáo dục phân công giáo viên chuyển về giảng dạy tại các trường cấp 1 ở ngoại thành. Cùng với các cấp học khác, học sinh cấp 1 theo gia đình đi sơ tán và học tập tại các địa phương ở nông thôn. Dù trong giai đoạn khó khăn nhưng không vì thế mà giáo dục bị lơ là. Các em học sinh vẫn học tập, thầy vẫn giảng dạy, khi có máy bay là cả thầy và trò vội vã chui xuống hầm trú ẩn được đào ngay trong lớp học. Hành trang tới lớp của các em cùng với cặp hoặc túi đựng sách, vở, bảng con báo giờ cũng có chiếc mũ rơm.

NGƯT Đỗ Lê Chẩn – nguyên Tổ trưởng tổ cấp 1 giai đoạn này nhớ lại: Hà Nội là đơn vị đầu tiên đưa ra sáng kiến biên soạn giáo án để gợi ý cho giáo viên (tiền đề cho tài liệu Hướng dẫn giáo viên giảng dạy ngày nay). Trong những năm chiến tranh phá hoại khốc liệt ấy, giáo viên phải lo cái ăn, lo an toàn cho học sinh... Để việc giảng dạy của giáo viên đúng trọng tâm kiến thức, đồng thời giảm bớt áp lực cho giáo viên, tổ tiểu học cho soạn những bài soạn để giáo viên dùng trong giảng dạy. Các cán bộ của Sở thường xuyên hướng dẫn chuyên môn cho các quận, huyện. Sau đó rất nhiều địa phương của cả nước đã xin những bài soạn này để cung cấp cho giáo viên. Nhiều cuốn giáo án của giáo viên sau này được xuất bản cũng căn cứ vào những bài soạn giảng của giáo viên Thủ đô.

Nói đến giáo dục Thủ đô trong giai đoạn này không thể không nói đến phong trào Vở sạch chữ đẹp. Ngày ấy, tại trường Tiểu học Thăng Long cô giáo Lê Thị Tý đã hằng ngày lặng lẽ, kiên trì sửa từ cách cầm bút, từng nét chữ, rèn thói quen giữ vở sạch cho học sinh, để chồng vở học sinh lớp cô sạch và đẹp, để nét chữ của trò đúng cấu tạo, kiểu mẫu, đúng chính tả và rõ ràng. Việc làm của cô giáo đã được phát động thành phong trào thi đua trong trường. Năm 1968, ngành giáo dục có một hội nghị chuyên đề về "Vở sạch, chữ đẹp" giới thiệu vở của học sinh trường Thăng Long. Phong trào ý nghĩa này lan rộng và dần dần “Vở sạch, chữ đẹp” từ ngôi trường Thăng Long đã trở thành phong trào thi đua của giáo dục cả nước. Cô giáo Lê Thị Tý đã vinh dự được thưởng Huy hiệu Bác Hồ.

Năm 1965, có sự hợp nhất Hà Đông- Sơn Tây thành tỉnh Hà Tây. Tỉnh Hà Tây đã đón hàng chục vạn học sinh Hà Nội sơ tán về rải rác khắp các huyện. Trong hoàn cảnh chiến tranh nhiều khó khăn, ngành Giáo dục Hà Tây vẫn quyết tâm chỉ đạo thi đua dạy tốt- học tốt, khắc phục tư tưởng bình quân chủ nghĩa. Ty Giáo dục đã phối hợp với Viện KHGD nghiên cứu một số chuyên đề phục vụ chương trình cải cách giáo dục. Trường cấp 1 Hồng Dương (Thanh Oai) là cơ sở thí điểm đề tài phổ cập cấp 1.

Sau khi hiệp định Paris được ký kết, Bắc – Nam sum họp một nhà, đất nước mới thống nhất nên còn vô vàn những khó khăn. Giáo dục Hà Nội cũng vậy, phải  sắp xếp lại hệ thống trường lớp và đề ra những kế hoạch phát triển. NGƯT Đỗ Lê Chẩn cho biết, khi ấy có hai nhiệm vụ quan trọng là đảm bảo số lượng và nâng cao chất lượng. Đầu tiên là huy động trẻ em tới trường để tiến tới phổ cập cấp 1 đúng độ tuổi, đảm bảo ai cũng được đi học. Công tác huy động tương đối thuận lợi nhưng một vấn đề đặt ra là không có chỗ học cho các cháu khuyết tật. Chính vì vậy,  Hà Nội đã cho xây dựng các trường giáo dục trẻ khuyết tật. Đó là các trường PTCS Xã Đàn (thành lập 1977) dành cho trẻ em khiếm thính, trường Nguyễn Đình Chiểu (1982) dành cho trẻ em khiếm thị và sau này, năm 1993 có thêm trường tiểu học Bình Minh chăm sóc và dạy học sinh khuyết tật trí tuệ. Tất cả các trường này đều tiếp nhận cả trẻ em bình thường để giúp cho trẻ em khuyết tật có cơ hội hoà nhập.

Dù trong giai đoạn ác liệt của chiến tranh hay những khó khăn của thời hậu chiến nhưng giáo dục Hà Nội vẫn không ngừng phát triển cả về quy mô và chất lượng. Thống kê năm học 1975 – 1976 cho thấy Hà Nội lúc này đã có 184 trường cấp 1 với 4.716 lớp học, hơn 194 nghìn học sinh và hơn 5 nghìn giáo viên. Với nỗ lực của Hà Nội cũng các địa phương khác của cả nước nên mặc dù kinh tế còn thấp kém và trong hoàn cảnh cả nước có chiến tranh, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa đã hình thành và không ngừng phát triển. Nạn mù chữ căn bản được xoá bỏ; trình độ văn hoá của nhân dân lao động đã được nâng lên một bước quan trọng.

Để nâng cao chất lượng đội ngũ, Hà Nội không chỉ đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn mà chất lượng của các hoạt động chuyên môn cũng được đổi mới, trong đó đáng chú ý là sự thay đổi của cuộc thi giáo viên dạy giỏi. Theo ông Chẩn, trước đến nay các cuộc thi đã được tổ chức nhưng chưa chuyên nghiệp và thường xuyên. Từ những năm 1988, 1989, cuộc thi GVDG được tổ chức thường niên và theo chuyên đề. Mỗi giáo viên dự thi 3 tiết dạy. Ban giám khảo không phải là BGH nhà trường như trước mà là những chuyên gia của Viện khoa học giáo dục, những giảng viên của ĐH Sư phạm Hà Nội… NGƯT Đỗ Lê Chẩn cũng tâm sự, ngày đó, giáo viên phải thường xuyên đến thăm CMHS để trao đổi về kết quả học tập rèn luyện của học sinh và tăng cường sự kết hợp giữa gia đình – nhà trường để giáo dục đạt hiệu quả cao nhất.

Những năm 1982-1990, địa bàn hành chính của Hà Nội mở rộng gồm 16 quận, huyện do sáp nhập thêm các huyện của tỉnh Hà Sơn Bình (cũ) và huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc. Việc chỉ đạo các địa bàn được chia theo vùng thuận lợi, vùng đại trà và vùng ngoại thành khó khăn để chỉ đạo các hoạt động dạy và học cho phù hợp với đặc thù từng vùng. Nhà giáo Trịnh Đức Minh cho biết: Thời điểm này, ngoài các hoạt động nổi bật là thi giáo viên dạy giỏi; phát động và xây dựng phong trào vở sạch- chữ đẹp, các nhà trường còn bắt tay vào xây dựng trường Chuẩn quốc gia, đồng thời một số trường cấp 1 được lấy làm cơ sở thực nghiệm sách giáo khoa mới của Viện KHGD.

Giai đoạn 1991 - 2007

Ngày 12/8/1991, Quốc hội ban hành Luật phổ cập giáo dục tiểu học. Đây là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của ngành giáo dục cả nước nói chung, cấp học giáo dục tiểu học Thủ đô nói riêng. Từ đây, công tác quản lý giáo dục tiểu học được kiện toàn, dưới sự quản lý của phòng giáo dục tiểu học. Có thể nói, giai đoạn này, Phòng giáo dục tiểu học Hà Nội chính thức được ra đời (năm 2007) và Nhà giáo Nguyễn Áng là trưởng phòng đầu tiên.

Theo các nhà quản lý lão thành của ngành học tiểu học, so với nhiều địa phương khác, Phòng giáo dục tiểu học của Hà Nội được thành lập sau. Tuy nhiên, công tác quản lý ngành học tiểu học, đặc biệt là quản lý về chất lượng đã rất chuyên nghiệp. Lý do là năm 1986 Hà Nội đã có “Trung tâm phương pháp giáo dục Hà Nội” hoạt động cùng Phòng giáo dục phổ thông. Các cán bộ chỉ đạo chuyên môn trực tiếp phối hợp với các phòng giáo dục quận, huyện tổ chức các chuyên đề sư phạm bộ môn; đồng thời cùng trường Bồi dưỡng cán bộ giáo dục Hà Nội, trường Trung học Sư phạm Hà Nội tổ chức các lớp tập huấn chuyên môn cho giáo viên cốt cán của các quận, huyện và hoàn chỉnh trình độ đào tạo trung học sư phạm của giáo viên chưa đạt chuẩn. Nhờ vậy, những năm đầu thực hiện Luật phổ cập giáo dục Tiểu học, chất lượng giáo dục Thủ đô nói chung, tiểu học nói riêng đã từng bước ổn định và phát triển.

Giai đoạn này, giáo dục Hà Tây cũng có sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Số học sinh phổ thông ngày càng phát triển, việc tách trường cấp 1, cấp 2 từ trường PTCS đã được triển khai ở 50% số huyện, tạo điều kiện tập trung cho cấp 1, cấp nền móng vững chắc cho cả khối phổ thông. Năm 1992, tỉnh Hà Tây đã hoàn thành mục tiêu, chỉ tiêu về kế hoạch chống mù chữ và phổ cập cấp 1. Chất lượng giáo viên không ngừng nâng cao qua các phong trào thi đua giáo viên dạy giỏi, dự giờ thăm lớp, soạn giáo án có chất lượng, cải tiến phương pháp giảng dạy…

Từ năm 1990 đến 2000, Giáo dục phổ thông nói chung, giáo dục tiểu học nói riêng của cả nước chính thức bắt đầu đổi mới. Hòa chung trong không khí đó, cấp học giáo dục tiểu học của Thủ đô luôn đi đầu trong các phong trào, tiêu biểu phải kể tới việc đổi mới phương pháp dạy học.

Nhà giáo Nguyễn Áng – Nguyên Trưởng phòng GDTH Hà Nội chia sẻ, ngành GDTH Thủ đô đã thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng đổi mới của Bộ GD&ĐT với phương châm: Dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Đầu những năm 1990, Viện khoa học giáo dục đã nghiên cứu đề tài “Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học” và kết hợp với GDTH Hà Nội tiến hành thực nghiệm và hoàn thiện. Đổi mới phương pháp dẫn tới yêu cầu đổi mới hình thức tổ chức dạy học, đồng thời gắn liền với đổi mới hình thức quản lý và kiểm tra đánh giá các nhà trường của phòng GDTH. Trong giai đoạn này, công tác giáo dục đạo đức, phát triển toàn diện năng lực người học được các trường TH trên địa bàn thành phố quan tâm bằng việc đưa các hình thức vui chơi, văn nghệ, tổ chức tham quan các địa danh lịch sử cho học sinh… Học sinh được học mà chơi, chơi mà học theo khẩu hiệu: “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui” với nhiều hình thức mới lạ, hấp dẫn. Thời điểm này, các trường tiểu Nam Thành Công, Ngọc Hà, Thăng Long, Lê Văn Tám…đã thực hiện thí điểm đề tài đổi mới này.

Có thể nói để việc đổi mới phương pháp dạy học được triển khai thuận lợi không thể không nhắc tới vai trò của đề án “Giải pháp chuyển đổi trường TH sang mô hình dạy học 2 buổi/ngày” do nhà giáo Nguyễn Áng làm chủ nhiệm. Đề án này bắt đầu tiến hành năm 1990 với mục tiêu thay đổi phương thức giáo dục trẻ ở TH với nội dung giáo dục toàn diện. Việc thay đổi nội dung dạy học (dạy cái gì?) đã quyết định đến nhiều yếu tố khác như hình thức dạy học (dạy như thế nào?), giáo viên dạy học (ai dạy?, trình độ ra sao?), cơ sở vật chất (dạy trong điều kiện nào?)…Nhờ đó, các trường học của Thủ đô có nhiều phòng học khang trang hơn cùng với các sân chơi, bãi tập hay thư viện quy mô. Trình độ giáo viên, công tác quản lý của nhà trường cũng có những cải thiện đáng kể… Việc triển khai đề án này đã tác động mạnh mẽ nhất, ý nghĩa nhất giúp giáo dục Việt Nam tiếp cận với nền giáo dục tiên tiến của thế giới.

Cũng theo nhà giáo Nguyễn Áng, ngay từ những năm 1990 đến 2000, việc đưa tin học, công nghệ và ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh vào cấp TH đã được manh nha ở Thủ đô Hà Nội, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển các môn học này như hiện nay. Trên cơ sở xây dựng trường chuẩn quốc gia và nền tảng giáo dục toàn diện, Hà Nội tiến thêm một bước trong xây dựng các trường điểm cũng như phát triển các mũi nhọn trong GDTH, phát huy tài năng thuộc nhiều lĩnh vực, từ các môn văn hóa đến các môn nghệ thuật, TDTT.

Năm 2000, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 40 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông với mục tiêu xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, SGK phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam; tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và thế giới. Theo Nghị quyết, sách giáo khoa mới lớp 1 và lớp 6 được triển khai từ năm học 2002 – 2003. Hà Nội đã có rất nhiều đóng góp trong việc đổi mới chương trình lần này. Không chỉ triển khai làm thí điểm, nhiều cán bộ quản lý, giáo viên của Hà Nội đã được chọn tham gia hội đồng biên soạn SGK và hội đồng thẩm định.

Để phát triển giáo dục, Hà Nội đã rất chú trọng phát triển số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên. Vì vậy, giáo viên cơ bản đủ về số lượng, kể cả giáo viên dạy các môn cơ bản hay các môn chuyên biệt như Mỹ thuật, Âm nhạc và Thể dục, bên cạnh đó giáo viên dạy môn Tiếng Anh, môn Tin học củng được tuyển chính thức là viên chức nhà nước. Ngoài ra, các trường còn có thêm đội ngũ nhân viên phòng thiết bị giáo dục, thư viện, y tế học đường, nhân viên nhà bếp (ở những trường có học sinh bán trú). 100% giáo viên TH có trình độ CĐSP, ĐHSP, một số giáo viên không đạt chuẩn đào tạo được chuyển sang công tác khác tại nhà trường. Các nhân viên của nhà trường đều được tập huấn nghiệp vụ trong dịp hè tại phòng GD&ĐT và trường Bồi dưỡng Cán bộ giáo dục Hà Nội. Các nhân viên nhà bếp được ký hợp đồng và khám sức khỏe định kỳ hằng năm.

Chất lượng giáo dục Tiểu học ngày càng khởi sắc

Giai đoạn từ năm 2008 đến nay

Bắt đầu từ ngày 1/8/2008, Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH12 của Quốc hội khóa XII về điều chỉnh địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội có hiệu lực. Theo Nghị quyết, Thủ đô Hà Nội được sáp nhập thêm toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) và 4 xã của huyện Lương Sơn (Hòa Bình). Cùng với sự phát triển của Hà Nội, quy mô mạng lưới trường, lớp của ngành giáo dục được mở rộng, trong đó Giáo dục Tiểu học có 674 trường (công lập 653 trường; ngoài công lập: 21 trường). Đến nay là 692 trường. Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Hà Nội Phạm Xuân Tiến cho biết: Ngay sau khi hợp nhất, Phòng giáo dục TH đã nhanh chóng ổn định, thống nhất công tác quản lý, tập trung chỉ đạo thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá, dạy học phân hóa trên cơ sở chuẩn kiến thức, tăng cường tích hợp nội dung giáo dục địa phương, giáo dục môi trường, kĩ năng sống cho học sinh trong các môn học. Công tác giáo dục truyền thống, lịch sử địa phương; giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh được mở rộng trong các nhà trường. Chất lượng đạo đức và văn hóa của tiểu học có tiến bộ. Tỷ lệ xếp loại hạnh kiểm hàng năm của bậc tiểu học, thực hiện đầy đủ trên 99,8%. Kết quả môn Tiếng Việt, loại giỏi trên 60%. Việc dạy ngoại ngữ, tin học tiếp tục thực hiện tại 678 trường tiểu học, cho trên 430.000 học sinh.

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XV, giáo dục tiểu học Hà Nội đã tập trung thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm: Tiếp tục đẩy mạnh triển khai các cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” lồng ghép với cuộc vận động “ Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” và các cuộc vận động của ngành giáo dục Hà Nội; xây dựng phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Đẩy mạnh đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, đánh giá kết quả học tập phù hợp với từng đối tượng và tâm sinh lý của học sinh tiểu học đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng; chú trọng giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh.

Triển khai có hiệu quả dạy học ngoại ngữ theo chương trình mới; tổ chức thí điểm mô hình trường học mới VNEN nhằm đổi mới đồng bộ phương pháp dạy, phương pháp học và kiểm tra, đánh giá; tiếp tục thí điểm và triển khai mô hình trường chất lượng cao; tiếp tục triển khai giảng dạy tài liệu giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho học sinh thủ đô. Đổi mới mạnh mẽ công tác quản lí chỉ đạo, bồi dưỡng và đề cao trách nhiệm, khuyến khích sự sáng tạo của giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý. Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, quan tâm công tác chăm sóc giáo dục trẻ khuyết tật, tàn tật, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, đẩy mạnh tổ chức dạy học 2 buổi / ngày. Đầu tư xây dựng phòng học giảm các điểm trường lẻ, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học.

Từ năm học 2013-2014, ngành tiếp tục triển khai thí điểm mô hình trường học mới tại trường TH Tả Thanh Oai (H. Thanh Trì) và mở rộng tại 50 trường trên tinh thần tự nguyện ở 15 quận, huyện. Tiếp tục triển khai thí điểm phương pháp "Bàn tay nặn bột" ở môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1,2,3 môn Khoa học ở lớp 4,5. Tiếp tục triển khai thí điểm dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới tại 10 trường tiểu học (quận Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Cầu Giấy, Long Biên, Hoàng Mai, Hà Đông, Thanh Xuân). Nhiệm vụ được các nhà trường chú trọng là đổi mới phương pháp dạy-học: Tổ chức dạy học theo hướng hoạt động, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Những nơi có điều kiện chủ động thực hiện mô hình dạy học phân hoá theo các nhóm đối tượng học sinh trong cùng một lớp đảm bảo phù hợp với từng đối tượng.

Đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ giáo viên không ngừng lớn mạnh đáp ứng theo Chuẩn hiệu trưởng, Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học…

  • Thành phố Hà Nội hiện có 379/702 trường tiểu học đạt Chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 54%. Trong đó, 376 trường đạt Chuẩn mức độ 1 và 3 trường đạt Chuẩn mức độ 2.
  • Hơn 90% trường tiểu học đã tổ chức dạy học 2 buổi/ngày, nâng tỷ lệ học sinh học được 2 buổi/ngày lên 84,9 %.
  • 95% giáo viên đạt trình độ trên chuẩn. Toàn Thành phố đã có 38 giáo viên được công nhận GVDG cấp Quốc gia. Hàng năm có gần 90 giáo viên được công nhận là GVDG cấp Thành phố.
  • Nhiều trường tiểu học đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng các danh hiệu cao quý. Tiêu biểu như trường TH Thăng Long (quận Hoàn Kiếm) được nhận Huân chương Độc lập hạng Ba (năm 1996),  hạng Nhì (năm 2009). Trường TH Lê Ngọc Hân (quận Hai Bà Trưng) được nhận Huân chương Độc lập hạng Ba (năm 2011). TH Nam Thành Công (quận Đống Đa), TH Chu Văn An (quận Tây Hồ) được nhận Huân chương Lao động hạng Nhất năm 2013, 2014…

Nhóm PV (Theo Tạp chí Giáo dục Thủ đô số 52, tháng 4/2014)

Ý kiến bạn đọc (0)

Viết ý kiến của bạn
 
Thăm dò ý kiến

Bạn thích nhất chuyên mục nào trên Tạp chí Giáo dục Thủ đô ?
  • Vấn đề - Sự kiện
  • Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vu
  • Gia đình - Nhà trường - Xã hội
  • Gương mặt cơ sở
  • Có thể bạn chưa biết
  • Văn hóa - Văn nghệ