Ngày đăng:   Thứ 4, 03-09-2014 16:17:24   /   Lượt đọc: 609

Giáo dục chuyên nghiệp: Mạch nguồn đào tạo nguồn nhân lực cho Thủ đô

(GDTĐ) - 60 năm đã qua đi với những thăng trầm của lịch sử, trong dòng chảy bền vững của ngành GD&ĐT Thủ đô, ngành học Giáo dục chuyên nghiệp (GDCN) giống như một mạch nguồn trong hành trình xây dựng bền bỉ và phát triển của dòng chảy ấy. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ về quan tâm đào tạo nguồn nhân lực, nhân tài, coi đây là động lực của sự phát triển, đưa nước nhà tiến tới giàu mạnh, dân chủ, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu, GDCN đã từng bước chủ động “làm mới” mình bằng việc đa dạng hóa các loại hình đào tạo, gắn đào tạo với nhu cầu xã hội, thu hút nhiều học sinh theo học và khẳng định nhiều mô hình đào tạo chất lượng, hiệu quả.

Giờ dạy của trường Trung cấp sư phạm mẫu giáo - nhà trẻ Hà Nội

Giai đoạn 1954 – 1981

Là một trong những cán bộ về tiếp quản ngành giáo dục Thủ đô năm 1954, công tác ở nhiều đơn vị khác nhau, trong đó đã từng đảm nhiệm vai trò quyền Trưởng phòng Giáo dục chuyên nghiệp Hà Nội (trực thuộc UBND Thành phố (1980-1982) rồi Phó ban Giáo dục chuyên nghiệp (1983 -1989), nhà giáo Nguyễn Đức Thuần cho biết: Khi tiếp quản Thủ đô, GDCN Hà Nội do UBND Thành phố trực tiếp chỉ đạo, hoạt động dưới các hình thức đào tạo sơ học, dạy nghề, trung học chuyên nghiệp. Do bước vào thời kỳ Thủ đô mới giải phóng nên GDCN tập trung đào tạo đáp ứng nguồn nhân lực gắn với nhu cầu thực tế, kịp thời phục vụ sự phục hồi và phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn. Lúc này, công tác đào tạo còn manh nha, sơ sài, chủ yếu khoán giao cho hiệu trưởng các nhà trường tự lo liệu về giáo trình, chương trình cũng như chất lượng đào tạo, mà chưa thực sự có một cơ quan quản lý chính thức.

Đến năm 1969, do yêu cầu phát triển mạnh mẽ của sự nghiệp đào tạo công nhân, cán bộ các cấp, UBND Thành phố đã lập một cơ quan giúp Thành phố quản lý tốt hơn lĩnh vực này, lấy tên là Phòng Giáo dục chuyên nghiệp. Đây là đầu mối giúp UBND thực hiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo, các trường lớp chuyên nghiệp do các sở chuyên ngành trực tiếp đảm nhận. Nhà giáo Nguyễn Đức Thuần nhận định: Sự ra đời của phòng GDCN được coi là tiền đề từng bước đi sâu vào quản lý chất lượng đào tạo, đồng thời phát triển mạnh việc đào tạo bồi dưỡng trình độ cho đội ngũ cán bộ của thành phố, nhất là đào tạo đại học tại chức. Thông qua việc bước đầu thống nhất quản lý đi vào khoa học đào tạo, xuất hiện nhu cầu phải nâng tổ chức phòng GDCN thành Ban GDCN.

Việc tuyển sinh vào các trường sơ học, dạy nghề và trung học chuyên nghiệp cho đối tượng phổ thông trung học được xét căn cứ vào kết quả học tập ở các trường phổ thông, căn cứ vào điểm thi vào các trường cao đẳng và đại học do Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp tổ chức thi thống nhất tại các tỉnh, thành phố (không được xét vào các trường cao đẳng và đại học thì được xét chọn vào các trường trung học chuyên nghiệp nếu có nguyện vọng). Do sự phát triển mạnh các trường lớp phổ thông trung học và bổ túc văn hóa cấp III nên dần dần các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, bên cạnh nguồn tuyển sinh là học sinh tốt nghiệp phổ thông cơ sở còn tuyển cả nguồn học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học.

Đến cuối năm 1981, Hà Nội trực tiếp quản lý 44 trường sơ học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, 1 trường Cao đẳng sư phạm. Phòng GDCN chỉ quản lý các trường lớp sơ học, các trường trung học chuyên nghiệp và đại học tại chức; Còn dạy nghề thì do Sở Lao động quản lý. Tuyển sinh vào các trường Trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng đại học do Sở Giáo dục quản lý. Để thống nhất quản lý cả 3 mảng trên, UBND Thành phố chính thức cho lập Ban GDCN Hà Nội ngày 22/12/1981.

Giai đoạn 1982-1990

Ban GDCN ra đời mở ra giai đoạn mới về nghiên cứu thống nhất quản lý đào tạo, quy hoạch sắp xếp phát triển trường lớp, tập hợp các trường chuyên nghiệp để học tập trao đổi kinh nghiệm, thi chọn giáo viên giỏi, xét duyệt sáng kiến kinh nghiệp, xây dựng các phòng học chuyên môn hóa, phát triển mạnh các trung tâm dạy nghề quận huyện, thí điểm dạy nghề trung học, thống nhất tuyển sinh vào các trường trung học chuyên nghiệp địa phương và trung ương đóng tại Hà Nội. Đây là thời kỳ ổn định để phát triển mạnh sự nghiệp giáo dục nghề nghiệp thống nhất trên địa bàn Thủ đô.

Thời kỳ này, Ban GDCN Hà Nội trực tiếp quản lý 5 trường: ba trường trực thuộc phòng GDCN cũ là trường Ngoại ngữ tại chức, Ban quản lý đại học tại chức, trường Trung học quản lý kinh tế; 2 trường thuộc Sở Lao động cũ chuyển sang là trường Công nhân kỹ thuật cơ điện 1 và trường Dạy nghề công nghiệp số 2. Kết hợp với các sở chuyên ngành và các huyện quản lý 39 trường sơ học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Theo sự chỉ đạo của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề, UBND Thành phố, Ban GDCN còn phối hợp với các Bộ có trường cùng với liên hiệp công đoàn (ban Trường học) và ban Thi đua thành phố quản lý 41 trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề của trung ương đóng ở Hà Nội về mặt tuyển sinh và đào tạo bồi dưỡng cán bộ cho Hà Nội.

Nhà giáo Nguyễn Đức Thuần cho biết, trong giai đoạn này hoạt động của ngành GDCN Hà Nội tập trung vào các vấn đề lớn như sau:

Thống nhất tổ chức thi tuyển sinh vào các trường trung học chuyên nghiệp địa phương và trung học chuyên nghiệp trung ương cho học sinh Hà Nội: Từ năm 1982 đến năm 1989, việc tuyển sinh vào các trường trung học chuyên nghiệp do Thành phố thống nhất quản lý và chỉ đạo, có một hội đồng ra đề thi chung cho các trường theo khối thi Toán- Lý (cho các trường kinh tế và kỹ thuật), Toán- Sinh (cho khối trường y tế và nông nghiệp), Toán-Văn (cho các trường khối sư phạm). Con liệt sĩ, bộ đội đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, con gia đình có công với cách mạng … đều được ưu tiên xét tuyển. Học sinh có trình độ trung học ngày càng nhiều nên nhiều trường trung học chuyên nghiệp chỉ tuyển học sinh tốt nghiệp PTTH (hoặc bổ túc văn hóa cấp III) vào học (trừ trường trung học nông nghiệp vẫn tuyển nhiều học sinh tốt nghiệp PTCS)

Hình thành và phát triển mạnh các trung tâm dạy nghề quận huyện: Học sinh tốt nghiệp PTCS không học lên PTTH, không vào được các trường trung học chuyên nghiệp, không học ở các trường bổ túc văn hóa cấp III vừa học vừa làm trong giai đoạn này bình quân hàng năm có 17.000 người. Hàng năm còn khoảng 7.000 bộ đội hoàn thành nghĩa vụ trở về và hàng vạn học sinh đã tốt nghiệp PTTH không trúng tuyển vào các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học, cần phải được học nghề để tự giải quyết công ăn việc làm.

Thực tế trên đòi hỏi phải phát triển mạnh công tác dạy nghề. Vì vậy, Thành phố Hà Nội đã sớm chủ động thí điểm để mở rộng các trung tâm dạy nghề quận huyện. Nhiệm vụ chủ yếu của trung tâm dạy nghề là: Phổ cập dạy nghề cho thanh niên. Giúp UBND quận huyện thị xã quản lý chương trình nội dung giảng dạy và kiểm tra các lớp dạy nghề của các cơ sở sản xuất tập thể và tư nhân. Trung tâm dạy nghề là đơn vị sự nghiệp có hạch toán theo nguyên tắc lấy thu bù chi. Nhà nước chủ yếu đầu tư ban đầu cho 16 trung tâm dạy nghề quận huyện cơ sở vật chất và một vài biên chế quản lý. Người đi học đóng tiền theo quy định tùy ngành nghề. Trung tâm dạy nghề lo liên kết với các trường chuyên nghiệp, các cá nhân giỏi nghề, các cơ sở sản xuất để hợp đồng dạy nghề và liên kết sản xuất dịch vụ… Việc phát triển các trung tâm dạy nghề cũng như chất lượng đào tạo được Tổng cục dạy nghề đánh giá cao, Trung tâm dạy nghề quận Hoàn Kiếm đã được Tổng cục dạy nghề tặng Cờ thi đua đơn vị xuất sắc nhất toàn quốc.

Thí điểm loại hình đào tạo “dạy nghề trung học”( sau này gọi là trung học nghề: Từ năm 1984, Thành phố Hà Nội đã sớm thí điểm mở 2 lớp học nghề tại Trường dạy nghề công nghiệp số 2 trực thuộc ban GDCN về nghề sửa chữa điện dân dụng và nghề sửa chữa điện tử. Hệ này tuyển học sinh tốt nghiệp PTCS có qua kỳ thi tuyển 2 môn Toán-Lý. Học sinh học các môn văn hóa cao hơn chương trình bổ túc văn hóa trung học, tương đương chương trình PTTH về các môn chính như Văn, Toán, Lý, Hóa, Ngoại ngữ. Chương trình học các môn văn hóa và học nghề được bố trí đan xen nên có thể rút ngắn thời gian đào tạo ban đầu là 4 năm, sau rút xuống 3 năm rưỡi. Lớp thí điểm thi tốt nghiệp bổ túc văn hóa cấp 3 đều đạt chất lượng cao hơn hẳn các lớp bổ túc văn hóa khác, còn thi nghề thì thi riêng. Ngày 30/12 /1987, Bộ Đại học vàTrung học chuyên nghiệp và dạy nghề đã ra quyết định “mở trường dạy nghề trung học” (sau này gọi là trường trung học nghề).

Mở các lớp dạy nghề và trung học chuyên nghiệp hệ mở rộng bên cạnh hệ chính quy: Từ trước đến nay, các trường lớp dạy nghề và trung học chuyên nghiệp chỉ tuyển sinh theo chỉ tiêu kế hoạch của thành phố. Học sinh học hệ chính quy đều có học bổng, các chế độ cung cấp theo tem phiếu và tốt nghiệp đều được phân công, sử dụng theo đúng nghề đã được đào tạo. Thành phố đã sớm thí điểm và cho phép các trường được tuyển thêm học sinh vào học có đóng tiền học và học xong tự lo việc làm, gọi là hệ mở rộng từ năm học 1988. Trường Trung học tài chính có chỉ tiêu chính thức năm 1988 chỉ là 50, hệ mở rộng có 600 nhưng học sinh vẫn học khá đều đặn và chuyên cần. Trường dạy nghề cắt may mở thêm hệ mở rộng bình quân hàng năm có tới 500 – 600 người học.

Sắp xếp lại các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề của địa phương Hà Nội: Để có điều kiện tập trung đầu tư xây dựng trường, nâng cao chất lượng đào tạo, sử dụng tốt hơn cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên, tinh giản biên chế, Thành phố đã cho nghiên cứu quy hoạch sắp xếp lại trường lớp trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Sau sắp xếp giai đoạn đầu, 15 trường cũ thành 5 trường mới như sau: 2 Trường đào tạo công nhân xây dựng số 1 và số 2; Trường công nhân kỹ thuật công nghiệp Hà Nội; Trường trung học kinh tế; Trường quản lý nhà nước.

Chuyển đại bộ phận các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề đào tạo cho nhiều Sở về Ban GDCN trực tiếp quản lý: Trên cơ sở Quyết định số 1190/ QĐ – UB ngày 05/4/1989 về chuyển đổi mục tiêu đào tạo và đổi mới cơ chế đào tạo tại các trường lớp chuyên nghiệp, giao cho hiệu trưởng các trường tự xây dựng chỉ tiêu tuyển sinh, xây dựng ngành nghề đào tạo theo yêu cầu của các cơ sở sản xuất, của các thành phần kinh tế, yêu cầu học nghề của nhân dân sao cho phù hợp nhất với khả năng của nhà trường và phù hợp với khả năng đóng góp thật cần thiết của người học, học xong tự lo việc làm và nhà trường tạo điều kiện giới thiệu việc làm, Thành phố đã quyết định chuyển các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề đào tạo chung cho nhiều sở về Ban GDCN trực tiếp quản lý, trừ các trường thực sự chuyên ngành như Trung học Y tế, các trường sư phạm, văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao.

Các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề trung ương cũng như địa phương trong hoạt động chung của ngành giáo dục chuyên nghiệp Hà Nội đã nâng cao chất lượng đào tạo trong phong trào thi đua. Tổng kết 5 năm 1981-1986, UBND Thành phố đã tặng cờ và bằng khen cho 7 trường. Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề đã tặng 3 trường cờ đơn vị tiên tiến xuất sắc nhất của cả nước. Có 17 trường được Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Hai, hạng Ba; 14 trường được tặng Bằng khen của Hội đồng Bộ trưởng. Ban GDCN Hà Nội được tặng Huân chương Lao động hạng Ba năm 1988 về kết quả quản lý ngành.

Giai đoạn 1991 đến 2000

Tháng 8/1990, UBND thành phố có quyết định sáp nhập Sở Giáo dục và Ban GDCN thành Sở GD&ĐT. Theo đó, thành lập Phòng GDCN, trực thuộc Sở GD&ĐT. Nhà giáo Vũ Đình Cường, nguyên Trưởng phòng GDCN cho biết: Hệ thống đào tạo nghề nghiệp của Thành phố lúc đó gồm các trường Trung học chuyên nghiệp (nay là trường Trung cấp chuyên nghiệp); các trường Đào tạo nghề; các Trung tâm dạy nghề quận, huyện, các trường lớp dạy nghề tư thục. Sở GD&ĐT còn thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các trường TCCN, trường DN thuộc các Bộ, ngành Trung ương, các cơ sở đào tạo khác (kể cả các trung tâm ngoại ngữ, tin học hoạt động trên địa bàn thành phố). Lúc này hệ thống đào tạo kỹ thuật nghề nghiệp có được sự quản lý thống nhất, các trường và các cơ sở đào tạo có điều kiện trao đổi học tập kinh nghiệm của nhau trong việc phát triển ngành nghề đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo góp phần quan trọng trong việc nâng tỷ lệ người lao động qua đào tạo, Hà Nội luôn ở vị trí hàng đầu trong việc phát triển giáo dục nghề nghiệp.

Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT và UBND thành phố, ngành học GDCN đã tổ chức nhiều hoạt động chuyên môn nghiệp vụ, các phong trào thi đua dạy tốt, học tốt nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Việc thực hành thực tập được đặc biệt chú trọng nhằm nâng cao tay nghề chuẩn bị cho học sinh khi ra trường không bỡ ngỡ với thực tiễn.

Hoạt động thi giáo viên dạy giỏi, thi học sinh giỏi đã thành nề nếp hoạt động thường xuyên trong mỗi năm học của toàn bộ hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Đoàn giáo viên dạy giỏi của Thành phố dự hội thi giáo viên dạy giỏi toàn quốc luôn giành được vị trí cao. Cùng với phong trào thi giáo viên dạy giỏi, thi học sinh giỏi cũng được tổ chức định kỳ hàng năm, tạo động lực cho học sinh học tập, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp.

Nhà giáo Vũ Đình Cường nhấn mạnh: Thời gian này ngành GDCN Hà Nội, các trường chuyên nghiệp dạy nghề còn luôn luôn coi trọng việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh (nhất là khối các trường như Sư phạm, Y tế có đối tượng phục vụ sau này là con người). Được sự quan tâm của thành phố và các bộ, ngành chủ quản, cơ sở vật chất của các trường chuyên nghiệp dạy nghề có nhiều đổi mới, trường lớp khang trang sạch đẹp, nhiều trường được xây mới và nâng cấp như Trường Điện tử điện lạnh, Trường kỹ thuật tin học, Trường công nghiệp, Trường nông nghiệp, Trường thương mại du lịch đã tạo điều kiện để sau này các trường được nâng cấp thành Cao đẳng.

Cũng trong thời gian này, ngành học GDCN và nhiều trường được tiếp nhận dự án tài trợ của quốc tế: Dự án tăng cường cơ sở vật chất và nâng cao năng lực đào tạo của vương quốc Thái Lan cho Trung tâm dạy nghề Từ Liêm; Dự án tăng cường cơ sở vật chất và năng lực đào tạo cho trường Trung học công nghiệp (nay là Trường Cao đẳng nghề do Chính phủ Hàn Quốc tài trợ), nhiều đoàn cán bộ quản lý và giáo viên đã được sang tập huấn tại Hàn Quốc; Dự án tăng cường cơ sở vật chất và nâng cao khả năng đào tạo cho Trung tâm dạy nghề Đống Đa, Hai Bà Trưng do Thụy Sĩ tài trợ; Dự án nâng cao trình độ cán bộ quản lý và giáo viên ở Trường Bồi dưỡng cán bộ giáo dục, do Vương quốc Bỉ tài trợ. Một số dự án nhỏ do các công ty trực tiếp tài trợ như dự án của Công ty Honda, dự án của Ấn Độ cho trường Điện tử Điện lạnh, dự án của các tổ chức phi chính phủ cho Trường TC Kỹ thuật Tin học, TC Kinh tế-Du lịch Hoa Sữa... Các dự án quốc tế tài trợ trong thời gian này không những góp phần tăng cường cơ sở vật chất cho công tác đào tạo mà quan trọng hơn là nâng cao trình độ năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các trường.

Trong thời gian từ năm 1990 đến 1999, Sở GD&ĐT đã chỉ đạo, tham mưu những chủ trương, biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong toàn ngành đủ về số lượng, chuẩn hóa về trình độ và đồng bộ hóa đội ngũ, góp phần quan trọng cho toàn ngành đảm bảo chất lượng giáo dục đào tạo.

Tại thời điểm 1990 đội ngũ giáo viên các trường ở Hà Nội về cơ bản đã đạt trình độ chuẩn hóa, tuy nhiên thực tế đã xuất hiện nhiệm vụ mới là phải nhanh chóng đồng bộ hóa đội ngũ, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, cốt cán của từng ngành học, bậc học, có trình độ trên chuẩn. Theo đó, ngành học GDCN đã tham mưu với Thành phố mở nhiều lớp đại học để chuyển giáo viên tiếng Nga sang dạy tiếng Anh. Liên kết với các trường Đại học Sư phạm mở lớp đào tạo trình độ đại học cho giáo viên dạy tin học. Các trường mầm non, tiểu học có tổ chức bán trú nên cần một đội ngũ cô nuôi được đào tạo bài bản, trường kỹ thuật ăn uống phục vụ dành phần lớn chỉ tiêu hàng năm cho việc đào tạo cô nuôi cho các trường mầm non, tiểu học, nên các trường mầm non, tiểu học có được đội ngũ cô nuôi được đào tạo đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Liên kết với các trường Đại học Sư phạm, Đại học Bách khoa tổ chức đào tạo Đại học cho giáo viên các trường dạy nghề, các trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp.

Theo nhà giáo Vũ Đình Cường: Điều đáng ghi nhớ trong giai đoạn này là việc tổ chức bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ (chu kỳ 1992 - 1996, 1997 - 2002) cho tất cả giáo viên ngành học mầm non, tiểu học, trung học. Việc tổ chức bồi dưỡng thường xuyên được thực hiện có bài bản, góp phần quan trọng cho việc đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá học sinh, coi học sinh là trung tâm của hoạt động dạy học.

Giai đoạn này, hoạt động khoa học công nghệ và sáng kiến kinh nghiệm có bước phát triển mạnh, đi vào nề nếp, đã góp phần nâng cao trình độ cho cán bộ quản lý, giáo viên tìm ra những giải pháp sáng tạo, giải quyết những nhiệm vụ chính trị của toàn ngành là nâng cao dân trí - đào tạo nhân lực - bồi dưỡng nhân tài. Cũng trong thời gian này, công tác nghiên cứu khoa học có bước phát triển đáng kể. Sở GD&ĐT đã chủ động, có quan hệ tốt với Viện nghiên cứu Khoa học giáo dục và các trường đại học để giúp cho những đề tài có những cơ sở lý luận khoa học. Riêng ngành học GDCN cũng có nhiều đề tài nghiên cứu cấp thành phố như: Đề tài nghiên cứu ứng dụng phương pháp dạy học hiệu quả, nghiên cứu xây dựng mô hình nhân cách của học sinh Trung học chuyên nghiệp dạy nghề; Đề tài nghiên cứu xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên trong toàn ngành… các đề tài được nghiệm thu xếp loại xuất sắc, có ứng dụng thực tiễn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo.

Cô và trò trường Trung cấp xây dựng

Giai đoạn từ 2001 đến nay

Hơn 10 năm qua, đặc biệt là sau khi Hà Nội hợp nhất địa giới hành chính năm 2008, hệ thống các trường TCCN, CĐ của Hà Nội phát triển mạnh với 103 cơ sở đào tạo TCCN. Nếu như năm  2001, toàn Thành phố có  21 trường, trong đó CĐ có 2 trường, TCCN có 10 trường công lập và 9 trường NCL thì đến tháng 6/2013, Thành phố có 48 trường TCCN (trong đó 01 trường mới thành lập và 01 trường mới nâng cấp lên CĐ), 11 trường CĐ và  01 trường Bồi dưỡng Cán bộ của Thành phố có đào tạo TCCN. Ngoài hệ thống các trường địa phương, trên địa bàn Hà Nội còn hệ thống 11 trường TCCN, 39 trường ĐH thuộc các Bộ, ngành có đào tạo TCCN. Cùng với sự phát triển về số lượng trường, quy mô tuyển sinh TCCN hệ chính quy ổn định, phát triển tăng dần, thỏa mãn nhu cầu học tập nghề nghiệp, nâng cao dân trí cho  thanh niên, học sinh Thủ đô. Trong giai đoạn này, hàng năm các trường TCCN của Hà Nội đã cung cấp cho xã hội khoảng 16 – 18 nghìn HS, đã góp phần tăng tỷ lệ người lao động qua đào tạo và cân đối cơ cấu trình độ người lao động qua đào tạo. Ngành nghề đào tạo TCCN phát triển đa dạng, nhiều ngành nghề mới được đưa vào giảng dạy nhằm phục vụ việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Năm 2001 có 60 ngành, chuyên ngành đào tạo thì đến nay có  80  ngành, chuyên ngành. Cơ cấu ngành nghề đào tạo năm 2001 chủ yếu là nhóm ngành Kinh tế – Thương mại – Du lịch - Dịch vụ, sau mới đến Y dược, Sư phạm và một số ngành kỹ thuật (Công nghệ thông tin, Xây dựng, Điện, Điện tử). Nhưng từ năm 2008 đến nay có sự chuyển dịch mạnh sang đào tạo ngành Y – Dược, Sư phạm; tỷ lệ HS vào học ngành Kinh tế – Thương mại – Dịch vụ vẫn ở mức cao. Trong khi đó một số ngành kỹ thuật đang có nhu cầu sử dụng lao động, nhưng không thu hút được xã hội, người học như: Kỹ thuật môi trường, Công nghệ sinh học, lĩnh vực Nông nghiệp... Tình trạng mất cân đối về cơ cấu ngành nghề đào tạo dẫn đến vừa thừa, vừa thiếu nhân lực ở một số lĩnh vực.

Nhà giáo Tạ Song Hà- nguyên Phó trưởng phòng GDCN cho biết: Thực hiện chủ trương gắn đào tạo với nhu cầu xã hội, các trường TCCN đã tập trung xây dựng và công bố chuẩn đầu ra; đổi mới mục tiêu, chương trình và nội dung đào tạo nhằm cung ứng sản phẩm đầu ra cho các doanh nghiệp, khu công nghiệp và thị trường sử dụng lao động. Từ năm 2003 trở về trước, các trường TCCN Hà Nội sử dụng những bộ giáo trình cũ, lạc hậu. Đại bộ phận các học phần cơ sở và chuyên môn chưa có giáo trình. Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết phải đổi mới mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo, Đề án “Biên soạn chương trình, giáo trình môn học TCCN” đã được Thành phố phê duyệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc trong 3 năm từ 2003 – 2005, với tổng kinh phí ngân sách cấp 10,5 tỷ VND. Năm 2005, Đề án hoàn thành, toàn bộ 238 chương trình, 322 giáo trình các môn học đã được sử dụng phục vụ công tác giảng dạy, học tập trong hệ thống trường TCCN. Sau 3 năm thực hiện Đề án năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ CBQL, GV được nâng lên rõ rệt, GV, HS có giáo trình để tham khảo, sử dụng. Thủ đô Hà Nội là thành phố đi đầu trong việc tổ chức biên soạn chương trình, giáo trình các môn học theo hướng đổi mới.

Chất lượng đào tạo nhân lực trình độ TCCN có chiều hướng tiến bộ, từng bước đáp ứng  yêu cầu thị trường sử dụng nhân lực. Hiệu suất đào tạo TCCN đạt 80 -85%, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đạt 90 – 95%. Các trường đã quan tâm giới thiệu việc làm cho HS tốt nghiệp, qua theo dõi có khoảng 70-80% HS tìm được việc làm, nhiều học sinh tự tạo việc làm, mở các dịch vụ nhỏ, trong đó một số ngành không đủ nguồn cung ứng cho các đơn vị sử dụng như ngành sư phạm mầm non, xây dựng, y tế, ... Từ năm 2007, thực hiện Chương trình 07 – CTr/TU của Thành uỷ “Phát triển một số ngành dịch vụ trình độ, chất lượng cao giai đoạn 2006 - 2010”, cùng với các cấp học từ GD mầm non đến GD Trung học, GDCN đã thí điểm mô hình đào tạo TCCN chất lượng cao ở một số ngành nghề mũi nhọn (tại 6 trường TCCN). Kết quả  thí điểm đã khẳng định hướng phát triển mô hình này trong thời gian tới.

Năm 2001, Hà Nội có 689 GV TCCN, nay đã tăng lên trên 2000 GV, tỷ lệ GV trên chuẩn tăng 1,7 lần, GV đạt chuẩn trên 90%. Đội ngũ GV các trường TCCN về cơ bản đáp ứng quy mô đào tạo hệ chính quy, đảm bảo tỷ lệ HS/GV (20 – 30HS/GV) quy định cho từng nhóm ngành đào tạo, tương đối đồng bộ về cơ cấu, được bố trí sử dụng đúng với chuyên môn đào tạo. Tuy nhiên, việc tuyển dụng giáo viên đang gặp khó khăn ở một số môn chuyên ngành như Kế toán, Du lịch, Thi công xây dựng, Y Dược.

Khó khăn mà giáo dục chuyên nghiệp gặp phải trong giai đoạn này là cơ sở vật chất ở hầu hết các trường TCCN Hà Nội còn nghèo nàn và xuống cấp, các trang thiết bị, đồ dùng dạy học thiếu thốn, chắp vá, lạc hậu. Nguồn lực cho đầu tư trang thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất còn thiếu, dàn trải. Thực trạng này khiến học sinh sau khi tốt nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu sử dụng. Để thu hút học sinh, đồng thời đảm bảo được chất lượng đào tạo, nhiều trường đã mua sắm trang thiết bị thí nghiệm, thực hành, phương tiện đồ dùng dạy học, lắp đặt các phòng học đa năng, phòng máy vi tính nối mạng. Củng cố, xây dựng thư viện trường học theo chuẩn. Bên cạnh đó, các trường còn tổ chức liên kết chặt chẽ với các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp ngoài nhà trường và các đơn vị đào tạo khác để tăng cường trang thiết bị kỹ thuật, bố trí nơi thực hành, thực tập tốt nghiệp.

Thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục, từ năm 2001 đến nay, hệ thống các trường TCCN Hà Nội đã hình thành đủ các loại hình trường. Đến nay, Hà Nội đã có 37 trường TCCN NCL, tăng hơn 4 lần so với năm 2001 (9 trường). Số học sinh học tại các trường TCCN NCL tăng lên trong những năm 2002 – 2005 (chiếm  khoảng 55%) và giữ ổn định đến nay trên 50%. Mặc dù còn thiếu cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư, hỗ trợ cho các cơ sở đào tạo NCL, nhất là vấn đề đất đai; nhưng kết quả đạt được về hệ thống trường TCCN, quy mô HS, nguồn lực đóng góp từ xã hội, người học, đầu tư của các cá nhân, tổ chức đã khẳng định giai đoạn hơn 10 năm vừa qua Hà Nội là địa phương thực hiện tốt chủ trương xã hội hoá giáo dục, huy động các nguồn lực đầu tư cho phát triển hệ thống trường TCCN NCL.

Tôn vinh những giáo viên TCCN giỏi năm học 2013 - 2014

Nhìn nhận về sự phát triển của GDCN giai đoạn này, nhà giáo Tạ Song Hà cho biết: Giáo dục chuyên nghiệp có sự phát triển vượt bậc về quy mô, chất lượng đào tạo, tuy nhiên công tác đào tạo nhân lực trình độ TCCN của Hà Nội cũng bộc lộ những hạn chế, yếu kém cần khắc phục, đó là: Quy mô đào tạo ở nhiều trường còn nhỏ và phân bố chưa hợp lý  trên các địa bàn quận, huyện, khu công nghiệp. Cơ cấu ngành nghề đào tạo có sự chuyển dịch thiếu bền vững, chưa thu hút HS vào học các ngành nghề xã hội đang có nhu cầu lớn  như kỹ thuật môi trường - điện - điện tử - thông tin - cơ kim khí - dệt may - da giầy - chế biến thực phẩm - vật liệu mới. Chất lượng đào tạo so với yêu cầu của người sử dụng lao động còn có khoảng cách, nhất là khả năng thích ứng với sự chuyển đổi cơ cấu lao động theo cơ chế thị trường. Sự phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp hạn chế... Chưa có chính sách đầu tư tập trung và tương xứng với nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ thực hành, thực tập. Cơ chế, chính sách sử dụng nhân lực trình độ TCCN bất cập, chưa tạo được sức thu hút đối với thanh niên, học sinh. Chưa có cơ quan dự báo nhu cầu phát triển nhân lực và thông tin về thị trường sử dụng lao động ...

Trong chiến lược phát triển GDCN từ nay đến năm 2020, Hà Nội đã đưa ra định hướng chung là: Phát triển đồng bộ, hợp lí về mạng lưới trường, số lượng, chất lượng, cơ cấu ngành nghề đào tạo để đáp ứng kịp thời yêu cầu của thị trường lao động (kể cả xuất khẩu lao động) và nhu cầu người học.

Trưởng phòng GDCN Hoàng Hữu Niềm cho biết: Đến năm 2015, Hà Nội phấn đấu xây dựng được ít nhất 5 trường trọng điểm, chất lượng cao; tối thiểu 30% số ngành, 20% số học sinh TCCN đào tạo tại các trường CĐ, TCCN của Hà Nội được đào tạo theo chuẩn chất lượng cao, trong đó có đủ các ngành nghề cơ bản mà thị trường lao động cần. Đến năm 2020, cơ bản hoàn thiện hệ thống đào tạo TCCN trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp của Thành phố, trong đó có ít nhất 50% chuyên ngành và 35% số học sinh đào tạo tốt nghiệp đạt tiêu chuẩn chất lượng cao; có ít nhất 20% số trường trọng điểm (khoảng 8 trường), đào tạo chất lượng cao ngang tầm các trường cùng cấp của các nước tiên tiến trong khu vực về các mặt: quy mô, trang thiết bị, đội ngũ, nội dung, phương thức đào tạo và chất lượng, hiệu quả đào tạo.

Để đạt được mục tiêu này, Hà Nội sẽ tập trung đẩy mạnh đa dạng hóa ngành nghề, cấp độ đào tạo. Thành phố có chương trình ưu tiên đầu tư cho việc phát triển đào tạo các ngành nghề mới mà thị trường lao động đang cần nhiều nhân lực, đặc biệt là các ngành nghề yêu cầu lao động có trình độ, chất lượng đào tạo cao. Song song với đó là nâng cao chất lượng đào tạo để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong nước về nguồn nhân lực chất lượng cao và đáp ứng thị trường xuất khẩu lao động. Mở rộng hợp tác quốc tế để phát triển về nội dung, công nghệ đào tạo tiến tới hội nhập các chuẩn về đào tạo với các nước phát triển trong khu vực và thế giới. Điều quan trọng là phải đẩy mạnh gắn kết đào tạo TCCN với xã hội nhằm tiếp cận nhanh nhất những yêu cầu của thị trường lao động và khai thác các nguồn lực phục vụ phát triển giáo dục TCCN.

Nhóm PV (Theo Tạp chí Giáo dục Thủ đô số 55, tháng 8/2014)

Ý kiến bạn đọc (0)

Viết ý kiến của bạn
 
Thăm dò ý kiến

Bạn thích nhất chuyên mục nào trên Tạp chí Giáo dục Thủ đô ?
  • Vấn đề - Sự kiện
  • Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vu
  • Gia đình - Nhà trường - Xã hội
  • Gương mặt cơ sở
  • Có thể bạn chưa biết
  • Văn hóa - Văn nghệ