Ngày đăng:   Thứ 6, 01-02-2019 14:27:17   /   Lượt đọc: 540

Lợn trong nghệ thuật tạo hình Việt

(GDTĐ) - Tại di chỉ Kéo Lèng (Lạng Sơn) cách nay 5-10 vạn năm, giới khảo cổ học Việt Nam đã tìm thấy dấu tích xương lợn, chứng tỏ lợn là một trong những loài động vật dùng để ăn thịt đã xuất hiện sớm ở nước ta. Từ thời Hùng Vương, lợn rừng đã được thuần hóa thành lợn nhà. Thịt lợn đã trở thành thức ăn phổ thông của người Việt trong suốt hàng ngàn năm lịch sử. Không chỉ vậy, răng nanh lợn được dùng làm đồ trang sức và lợn đã là hình tượng sinh động trong tranh, điêu khắc gỗ dân gian.

Lơn ăn cây ráy

*Đồ trang sức độc đáo:

Nanh được sinh ra ở phần hàm dưới  lợn rừng,là vũ khí chiến đấu của chúng để bảo vệ lãnh thổ sinh sống hoang dã, nóphát triển và cong tròn, sắc bén theo thời gian và sự phát triển của cơ thể lợn.Giá trị của nanh  được tính theo độ cong, độ đặc, vân nổi, rễ nổi xuất hiện ở thân nanh. Nanh càng cuộn tròn,độ vòng càng lớn và càng đặc ruột thì giá bán cũngcao gấp bội.Hiếm quý nhất là loại nanh hình cuộn tròn có đường kính 13- 15cm. Với tài nghệ khéo léo của người nghệnhân  trong quá trình mài, cưa, đục, xuyên lỗ, xâu dây, bọc bạc, bọc vàng và chạm trổ những hình tượng Phật, Thánh, Tiên, Rồng, linh vật hoặc ký tự bùa chú, châm ngôn... đã“biến hóa” nanh lợn rừng thành trâm cài, dây chuyền, vòng tay, móc khóa.

Đồ trang sức bằng nanh lợn rừng được ưa chuộng bởi nó có tác dụng giải trừ tà khí, ốm đau, bệnh tật, cản lửa,cản gió độc, phong hàn, trị bóng đè, lưu thông khí huyết cho người lớn, trẻ nhỏ.

Trong tác phẩm “Những kẻ săn máu” của Jean Le Pichon đã mô tả về cách trang sức của nam giới sinh sống trên dải Trường Sơn đầu thế kỷ XX: “Đầu tóc của đàn ông Cà Tu rất đặc sắc, phần lớn búi tó có cài thêm chiếc lược đồng và một chiếc nanh lợn. Để có được chiếc nanh đó, người Cà tu nuôi lợn đặc biệt, các răng hàm trên của lợn đều bị nhổ hết đi để các nanh dưới mọc tự do. Lợn được nuôi bằng cám trong 7 năm, khi đó nanh lợn dài tới 10 – 15 cm với men răng màu trắng ngà rất mịn. Một con lợn như vậy có giá bằng hai con trâu”.

Thực tế trải nghiệm và niềm tin vào sức mạnh huyền diệu của thiên nhiên khiến người ta đinh ninh rằngđeo bảo bối này trên người hoặc treo trong nhà thì thân thể luôn được khỏe mạnh, bình an, phát tài phát lộc dồi dào, gặp nhiều cơ hộimay mắn vàtôn thêm vẻ đẹp mạnh mẽ, uy vũ cho người đeo.

Lợn đàn

*Biểu tượng phồn thực sinh động trong tạo hình dân gian

Sự hiện diện của con lợn trong đời sống chăn nuôi đã gieo cảm hứng sáng tạo cho nghệ nhân chạm khắc những hình tượng gần gũi, thân thương của làng quê.Trên bức cốn ở đình Phất Lộc (Thái Bình),chùa Cự Trữ (Nam Ninh - Nam Định) là cảnh người mẹ vừa cho con bú vừa ngắm nhìn chú ỉn mắt híp, lưng võng, bụng sệ,chân ngắn đang nghếch mõm, đủng đỉnh bước tới hoặc đang sục mõm vào máng ăn.

Còn các nghệ nhâncủa các làng gốmở Lái Thiêu (Bình Dương), Bát Tràng (Hà Nội) lại làm những lợn đất nung béo trục béo tròn“cười híp mí” phủ mầu rực rỡ. Tất cả  lợn đất đều được khoétlỗ nhỏ ở mông để trẻ em bỏ tiền tiết kiệm vào đó đến khi “lợn béo, bụng căng đầy tiền" thì “mổ lợn” (đập vỡ) lấy tiền mua sắm giấy bút, sách vở và tiêu Tết.

Điển hình cho một làng quê ngàn năm văn hiến của vùng đồng bằng Bắc bộ là làng tranh Đông Hồ (Thuận Thành – Bắc Ninh) và làng tranh Kim Hoàng (Hà Tây cũ, Hà Nội nay) đều khắc in tranh lợn.Nhà thơ Hoàng Cầm đã ca ngợi di sản văn hóa đặc sắc của xứ Kinh Bắc“Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong/Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”.

Ba bức tranh Đông Hồ là ba cảnh tượng vui mắt: “Lợn độc”thể hiện một con lợn đang ăn bên  máng cám.“Lợn ăn cây ráy”thể hiện con lợn có mõm dài với cái miệng rộng đến mang tai như cái gầu dai đangdồn sức ngoạm cây ráy-loại thức ăn phổ biến mà lợn khoái khẩu.“Lợn đàn” thể hiện sự sinh sôi, phồn thựcvà tình Mẫu – Tử với 5 chú lợn conmàu sắc, dáng vẻ khác nhau đang quây quần bên lợn mẹ.Trên thân mình mỗi con đều nhấn rất đậm hai xoáy Âm – Dương gần vai và mông. Tranh “Lợn đàn”tượng trưng cho Ngũ hành, Âm – Dương hòa hợp và sự sinh sôi, no đủ, trù phú, hạnh phúc.Mỗi dòng tranh lại có đặc điểm nổi bật khác nhau.Đến con lợn trong tranh Kim Hoàng thì nghệ nhâncách điệu nhiều hơn. Trên nền giấy hồng điều, nghệ nhân in con lợn được bằng mảng đen với các nét vẽ thêm phóng khoáng (mũi với hai lỗ mũi của nó được điểm tô bằng họa tiết mây hoa).

Nếu tranh Kim Hoàng kết hợp giữa in, tô màu và vẽ, in nét đen trước rồi vờn tỉa vẽ màu và in theo lối ngửa bảnthì tranh Đông Hồ là thuần in, in nhiều màu trên nền điệp, in theo lối sấp bản như kiểu đóng dấu. Nhìn chung, tranh dân gian Đông Hồ chắt lọc và điển hình hóa và đặc tả rất chân thực về giống lợn ỷ: hình dáng to khỏe, béo tốt; mặt to, tai lớn, mắt có vành mi, mõm hằn 3 ngấn, miệng gầu dai, tai lá mít, đít lồng bàn,lưng võng, bụng phệ. Theo các nhà sinh vật học thì giống lớn ỷ này có nguồn gốc ởViệt Namdo kết quả chọn lọc giống và chăn nuôi lâu đời của cộng đồng dân cư ở hạ lưu châu thổ sông Hồng. Hiện nay một số nước như Đức, Mỹ nhiều người thích nuôi lợn ỷ Việt Nam làm lợn cảnh để chăn dắt đi chơi vì họ cho rằng nó rất tinh khôn hiểu được tiếng người.

Đầu xuân năm Kỷ Hợi 2019 này, trên thị trường xuất hiện những bức tranh lợn bằng lụa vụn (một phế thải của làng Lụa Vạn Phúc) do các cháu của Câu lạc bộ khuyết tật quận Hà Đông tận dụng vàsáng tạo nên góp phần khởi sắc nghệ thuật tranh dân gian. Những tranh lợn bằng chất liệu mới này hấp dẫn người xem mua về làm quà lưu niệm mỗi khi thăm làng Lụa Vạn Phúc (Hà Đông – Hà Nội).

Nhật Minh – Phương Hòa - nguồn: Tạp chí Giáo dục Thủ đô số 109+110, tháng 1+2/2019

Ý kiến bạn đọc (0)

Viết ý kiến của bạn
 
Thăm dò ý kiến

Bạn thích nhất chuyên mục nào trên Tạp chí Giáo dục Thủ đô ?
  • Vấn đề - Sự kiện
  • Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vu
  • Gia đình - Nhà trường - Xã hội
  • Gương mặt cơ sở
  • Có thể bạn chưa biết
  • Văn hóa - Văn nghệ