Ngày đăng:   Thứ 2, 19-11-2018 14:42:20   /   Lượt đọc: 151

Tiếp tục cải tiến thi cử để tạo dựng niềm tin với xã hội

(GDTĐ) - Đó là một trong những ý kiến của PGS.TS Trần Kiều - nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, hiện là Chủ tịch Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam về một số vấn đề giáo dục hiện nay của nước ta.

PGS.TS Trần Kiều

*PV: Năm 2018 là năm thứ 5 cả nước thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của BCH Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, xin PGS cho biết suy nghĩ của mình về những yêu cầu và cách thức đánh giá việc thực hiện Nghị quyết đó?

-PGS.TS Trần Kiều: Đây là lần thứ hai Đảng ta ban hành Nghị quyết mà chỉ dành cho sự phát triển Giáo dục và Đào tạo nước nhà (Lần trước là Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng kì họp thứ 2 khóa VIII, 1996). Đặc điểm của Nghị quyết lần này thể hiện rất rõ ở tên của nó: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Nghị quyết đã được sự hoan nghênh, hưởng ứng của toàn dân và toàn đảng, trước hết là do ý nghĩa và tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục - đào tạo và sau đó là nhiều điểm mới mà lần đầu tiên được nêu lên trong các văn kiện của Đảng. Chẳng hạn, Nghị quyết đã khẳng định nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp thay thế cho nền giáo dục hiện nay còn có phần coi trọng chữ nghĩa và mang tính ứng thí. Đổi mới giáo dục Việt Nam phải đồng thời quán triệt các yêu cầu: Hiện đại hóa, dân chủ hóa, chuẩn hóa, xã hội hóa, hội nhập quốc tế và hướng tới xã hội học tập suốt đời... Ngoài mục tiêu tổng quát, Nghị quyết còn xác định những mục tiêu cụ thể với các nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện các mục tiêu đó, thể hiện rất rõ tính toàn diện.

Về nguyên tắc thì yêu cầu chủ yếu của hoạt động đánh giá Nghị quyết 29 là phải đánh giá mức độ đạt được của mục tiêu (mục tiêu tổng quát cũng như các mục tiêu cụ thể), thông qua việc khảo sát thực tiễn với nội dung phong phú, có sự tham gia của rất nhiều đối tượng, liên quan đến mọi bậc học, ngành học cũng như các điều kiện đảm bảo số lượng và chất lượng, liên quan đến mọi vùng miền. Có thể nói, đó là một nội dung khảo sát rất đa dạng. Điều đáng chú ý là, ngoài các yêu cầu nêu trên thì đồng thời phải cụ thể hóa một số quan niệm, vấn đề để tạo thuận lợi cho khảo sát, đánh giá, chẳng hạn như: Thế nào là một nền giáo dục thực học, thực nghiệp, mở; Thế nào là một nền giáo dục được hiện đại hóa, chuẩn hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa; Thế nào là hoạt động giáo dục tiếp cận năng lực người học. Những tác động của cách mạng 4.0 vào sự phát triển giáo dục là gì; Thế nào là một nền giáo dục tiên tiến mà giáo dục nước ta phải phấn đấu để đạt được vào năm 2030…

Tóm lại, đánh giá một Nghị quyết như Nghị quyết 29 trên đây, cần thiết phải có một mục đích đánh giá rõ ràng, nội dung đánh giá cụ thể và đầy đủ, có phương pháp luận đúng đắn và một hệ thống phương pháp đánh giá phù hợp, cùng với một đội ngũ chuyên gia có trình độ. Gần đây, Bộ GD&ĐT với sự phối hợp của Đại học Quốc gia Hà Nội đã tiến hành Hội thảo về đánh giá Nghị quyết 29 sau 5 năm ban hành. Kết quả Hội thảo đã bước đầu tạo được sự đồng tình trong các giới xã hội.

*Trong công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, việc đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục - đào tạo cũng được chú trọng? Tuy nhiên, từ thực tế của kỳ thi THPT quốc gia năm 2018 vừa qua, theo PGS, chúng ta cần có những cải tiến thế nào trong vấn đề thi cử?

-Đánh giá kết quả giáo dục là một khâu nhất thiết phải thực hiện của quá trình giáo dục. Thi cử chỉ là một hình thức đánh giá kết quả của người học sau một giai đoạn học tập (đánh giá tổng kết), là một hoạt động bình thường của người dạy và người học. Tuy nhiên, trong một nền giáo dục còn mang nặng tính ứng thí như giáo dục nước ta hiện nay thì thi cử lại được nghiêm trọng hóa và phức tạp hóa, tạo nên sự căng thẳng, thậm chí là sợ hãi đối với học sinh và lo lắng đối với phụ huynh học sinh.

Gian lận trong thi cử là một hiện tượng mà chưa bao giờ dẹp bỏ được qua từng giai đoạn phát triển giáo dục ở nước ta. Tuy nhiên thi cử (theo quan niệm như đã nêu ở trên) vẫn phải được tiến hành và phải tìm mọi cách để hạn chế đến mức tối thiểu sự gian lận. Hiện tượng tiêu cực trong thi cử khó có thể khắc phục một cách triệt để vì mặc dù ai cũng hiểu là cần tuân theo nguyên tắc đảm bảo tính khách quan trong tất cả các khâu (ra và duyệt đề thi, tổ chức thi, tổ chức chấm thi, tổ chức xét duyệt và công bố kết quả) nhưng lại không bao giờ có thể bỏ qua được tác động của các yếu tố chủ quan (dễ gây nên gian lận), vì thi cử luôn cần có sự tham gia tất yếu của con người.

cải tiến thi cử giảm căng thẳng cho học sinh

Trong vòng vài thập kỉ qua, Bộ GD&ĐT đã có rất nhiều cố gắng để cải tiến việc thi cử (bỏ các kì thi tốt nghiệp Tiểu học và Trung học cơ sở, tìm kiếm nhiều phương thức thi tốt nghiệp phổ thông và tuyển sinh vào đại học). Trong mấy năm gần đây, phương án tổ chức thi “Hai trong một”, cùng với cách xác định hệ thống các môn thi, bài thi trong kì thi tốt nghiệp phổ thông cũng như cách tuyển sinh vào đại học dựa trên kết quả thi tốt nghiệp phổ thông đã tạo được sự đồng thuận tương đối của học sinh, phụ huynh và những người khác trong và ngoài ngành. Ở các tỉnh, thành cũng đang có những thay đổi đáng lưu ý về cách thức tuyển sinh vào trường trung học phổ thông. Sự kiện gian lận, thay đổi điểm thi ở một số tỉnh trong kì thi THPT Quốc gia vừa qua tuy gây xôn xao và bất bình trong xã hội, song không phải vì vậy mà tiến hành ngay một sự thay đổi vội vã, thiếu sự chuẩn bị chu đáo. Trong vài năm tới, có lẽ nên giữ hình thức thi như hiện nay vì đã được thực tiễn chấp nhận; đồng thời muốn đạt được một sự cải tiến có tính cơ bản, lâu dài (và nhất thiết phải làm) để có được niềm tin với xã hội thì cần nghiên cứu, thử nghiệm cẩn thận, đòi hỏi phải có thời gian và một lộ trình cụ thể, hợp lí. Điều đáng quan tâm nhất là rút ra được những bài học sâu sắc của kì thi vừa qua để khắc phục trong các kì thi tới.

*Hiện nay tình trạng bạo lực học đường và học sinh bị rối loạn tâm thần, căng thẳng do học và thi đang ngày càng gia tăng. Phòng tư vấn học đường sẽ giúp các em phần nào giải tỏa được những căng thẳng về tâm lý, tuy nhiên một hạn chế lớn trong thực tiễn triển khai công tác tham vấn tư vấn học đường thời gian qua chính là nguồn nhân lực có đủ trình độ và kỹ năng. Cho tới hiện tại, hầu hết các nhà trường chưa có cán bộ chuyên trách làm công tác tham vấn tâm lý? Chúng ta phải giải bài toán này như thế nào thưa PGS?

-Nội dung tư vấn học đường không chỉ bao gồm những vấn đề về bạo lực, về rối loạn tâm thần mà còn rất nhiều các vấn đề khác. Nhân đây xin được nhắc lại với bạn đọc bốn nguy cơ của giáo dục thế kỉ XXI mà UNESCO đã cảnh báo, có liên quan chặt chẽ đến người học và cũng có thể liên quan tới nội dung mà người học muốn được tư vấn. Đó là: (i). Học rất nặng, quá tải tạo nên sự căng thẳng thần kinh dẫn tới có thái độ bi quan, chán chường trong học tập, nảy sinh tâm lí sợ hãi và những hệ lụy khác, thậm chí có trường hợp dẫn đến tự sát (như đã xảy ra ở một số nước trong vài thập kỉ trước đây); (ii). Tiếp nhận nhiều kiến thức song ít được tạo điều kiện sử dụng trong cuộc sống; Ngơ ngác, vụng về trong ứng xử, thiếu linh hoạt trong giải quyết vấn đề, đặc biệt là những vấn đề của thực tiễn; (iii). Bằng cấp nhiều song không được xã hội sử dụng vì có sự không gặp nhau giữa nội dung, cách thức đào tạo trong nhà trường với nhu cầu rất đa dạng của thực tiễn; (iiii). Có sự chênh lệch, khoảng cách lớn giữa các bộ phận người học về điều kiện kinh tế gia đình, về cơ hội, trình độ học tập. Một bộ phận yếu thế có nguy cơ bị gạt ra khỏi guồng quay giáo dục.

Tư vấn học đường là một hoạt động quen thuộc đối với nhiều nước trên thế giới. Mục đích, nội dung, cách thức tổ chức, hệ thống điều kiện thực hiện tư vấn đều đã được giải quyết, hoàn thiện biến hoạt động này trở nên rất bình thường, có hiệu quả, được người học và xã hội thừa nhận. Ở nước ta tuy có chậm hơn song trong vài thập kỉ qua, cũng đã tiến hành hoạt động tư vấn tâm lí dưới những hình thức khác nhau cho học sinh các cấp. Để chuẩn bị làm tốt hoạt động này trong trường học cần phải xác định ít nhất các yếu tố sau: (i). Làm rõ mục đích của tư vấn học đường; (ii). Xác định nội dung mà người học ở nước ta cần được tư vấn. Nội dung này rất phong phú, tùy thuộc vào trình độ phát triển của các loại đối tượng, không chỉ dừng lại ở lĩnh vực tâm lí mà còn rất nhiều vấn đề như: quan hệ, cách thức ứng xử, các thách thức và khó khăn trong học tập, trong đời sống, hướng nghiệp, những vấn đề về phát triển tâm lí, sinh lí, tình bạn, tình yêu,…; (iii). Tổ chức tư vấn, công việc này liên quan đến việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ tư vấn viên, xây dựng cơ sở vật chất, xây dựng chế độ chính sách cho công việc tư vấn…

Tư vấn học đường không chỉ được tiến hành trong nhà trường mà cần có sự tham gia một cách đồng bộ của các lực lượng khác là gia đình và xã hội, với nội dung và phương pháp phù hợp. Một điều đáng chú ý là ngoài yêu cầu cần phải có những hiểu biết cần thiết, đa dạng về những vấn đề mà người học muốn được tư vấn thì đây là một công việc còn mang tính nghệ thuật của người tư vấn, cuối cùng là thái độ thông cảm, thấu hiểu của người tư vấn với người được tư vấn.

Bộ GD&ĐT đã và đang quan tâm tới tư vấn học đường và có một số hoạt động chuẩn bị như: Biên soạn tài liệu tư vấn; Chỉ định một số đơn vị của Bộ đảm nhiệm công việc bồi dưỡng cho đội ngũ tư vấn viên… Chắc chắn trong một tương lai gần hoạt động này sẽ trở nên phổ biến trong các trường học, đặc biệt là các trường phổ thông.

*Thời gian vừa qua, dư luận rộ lên tranh luận về việc dạy học sinh đánh vần theo Sách tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục, mặc dù Bộ GD&ĐT đã lên tiếng về tài liệu nói trên nhưng dư luận vẫn còn nhiều băn khoăn, PGS nhìn nhận như thế nào về vấn đề này?

-Tôi xin không bình luận về Công nghệ Giáo dục theo quan niệm và cách làm của GS. Hồ Ngọc Đại mà chỉ phát biểu cảm tưởng về Sách Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ Giáo dục. Đây là một công trình được xem như là kết quả của một quá trình nghiên cứu dựa trên những luận điểm quan trọng về tâm lí học và ngôn ngữ học của GS. Hồ Ngọc Đại và cộng sự. Quyển sách này đã được thực nghiệm nhiều năm, ở nhiều nơi, đã được sửa chữa nhiều lần, cho đến nay nó đã được giáo viên và cán bộ quản lí ở một số địa phương có đánh giá tích cực và thực tế là đã cho phép các trường sử dụng, mặc dù còn có những tranh luận. Trong thời gian tới, sách giáo khoa sẽ được viết theo Chương trình mới và như vậy thì Sách Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ Giáo dục cũng giống như Sách Tiếng Việt lớp 1 theo Chương trình hiện hành sẽ được ngừng sử dụng để các nhà trường trên toàn quốc chọn lựa Sách giáo khoa mới.

*Xin cảm ơn PGS!

Kiều Giang, Hồng Hà (nguồn: Tạp chí Giáo dục Thủ đô số 105, tháng 10/2018)

Ý kiến bạn đọc (0)

Viết ý kiến của bạn
 
Thăm dò ý kiến

Bạn thích nhất chuyên mục nào trên Tạp chí Giáo dục Thủ đô ?
  • Vấn đề - Sự kiện
  • Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vu
  • Gia đình - Nhà trường - Xã hội
  • Gương mặt cơ sở
  • Có thể bạn chưa biết
  • Văn hóa - Văn nghệ