Ngày đăng:   Thứ 2, 30-11-2015 10:31:58   /   Lượt đọc: 4531

PGS.TS Trần Kiều: "Giáo viên đóng vai trò số một trong đổi mới giáo dục, đào tạo"

(GDTĐ) - PGS.TS Trần Kiều - nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, hiện là Chủ tịch Hội Khoa học – Tâm lý Giáo dục Việt Nam là người được biết đến với nhiều đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục xoay quanh các vấn đề về mục tiêu, chương trình, phương pháp, đánh giá… Trao đổi với PV Tạp chí GDTĐ về chương trình giáo dục phổ thông (CTGDPT) tổng thể được Bộ GD&ĐT đưa ra lấy ý kiến của toàn dân trong thời gian vừa qua, ông cho rằng dự thảo chương trình đã bám sát được xu thế của thế giới. Theo PGS.TS Trần Kiều, điều quan trọng là phải làm thế nào để đội ngũ giáo viên hiểu và đồng thuận với chủ trương đổi mới bởi giáo viên đóng vai trò số một trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục.

PGS.TS Trần Kiều

Hình thành phẩm chất và năng lực cho học sinh là nhiệm vụ chủ yếu của nhà trường phổ thông

* PGS có nhận xét gì về dự thảo CTGDPT tổng thể được Bộ GD&ĐT đưa ra lấy ý kiến của toàn dân trong thời gian qua?

- Trước tiên có thể thấy chương trình đã được xây dựng công phu, có quy trình chặt chẽ, thu hút được một đội ngũ chuyên gia, người quan tâm đông đảo trong và ngoài ngành giáo dục tham gia xây dựng và đóng góp ý kiến. Theo tôi được biết thì dự thảo cuối cùng (dự thảo đưa ra lấy ý kiến rộng rãi) là kết quả của sự liên tục điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện từ hàng chục các dự thảo trước đó. Có được một đội ngũ đông đảo với tinh thần trách nhiệm cũng như trình độ khoa học cao, kinh nghiệm thực tiễn phong phú như đã nói ở trên để làm chương trình là một nỗ lực lớn của Ban soạn thảo. Ngoài ra, một điều đáng chú ý khác là Dự thảo chương trình lần này đã quán triệt sâu sắc hơn, cập nhật hơn, cụ thể hơn những vấn đề cơ bản của lý luận chương trình giáo dục, với tư cách là một bộ phận của lý luận dạy học hiện đại. Cách làm chương trình lần này có sự khác biệt rõ rệt so với kiểu xây dựng và triển khai có phần thiên về mô phỏng chương trình nước ngoài, thiên về kinh nghiệm của những chương trình trước đây, đặc biệt là các chương trình những năm 1950, 1956. Ngoài việc xem xét và tham khảo kinh nghiệm phát triển chương trình của một số nước được chọn lọc trên thế giới thì Ban soạn thảo đã coi trọng việc kế thừa những kinh nghiệm tốt, hạn chế được các nhược điểm của những lần làm chương trình trước đây. Định hướng quan trọng hàng đầu đối với mọi hoạt động xây dựng và triển khai chương trình lần này quán triệt được các yêu cầu đổi mới mà Nghị quyết số 29/NQ-TW đã nêu lên.

*PGS có thể nói rõ hơn về những điểm mới trong dự thảo chương trình lần này?

- Có rất nhiều điểm mới, nếu liệt kê một cách chi tiết. Tuy nhiên, theo tôi có một số điểm nổi bật, đó là: Chương trình giáo dục phổ thông lần này coi trọng thực sự việc phát triển các năng lực (được chọn lựa phù hợp với học sinh Việt Nam, thực tiễn Việt Nam). Kiến thức và kỹ năng vẫn được chú ý với ý nghĩa là nền tảng của năng lực, nhưng mục đích cuối cùng của quá trình giáo dục là phải phát triển được các năng lực đã xác định. Nói một cách đơn giản thì mục đích dạy học không chỉ là giúp học sinh hiểu, lĩnh hội kiến thức mà còn có ý nghĩa hơn là biết dùng kiến thức, kỹ năng đó để học tập tiếp tục, để “hành”, để ứng dụng vào việc giải thích hoặc giải quyết được các vấn đề trong cuộc sống quanh mình.

Mục tiêu chương trình được xác định rất cụ thể qua việc nêu rõ các phẩm chất, năng lực cần thiết mà người học cần được phát triển và những phẩm chất, năng lực ấy được cụ thể hóa ở các cấp học. Mục tiêu này có ý nghĩa vừa là kết quả của quá trình giáo dục nhưng vừa là điểm xuất phát cho việc xác định các yếu tố khác của quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực (chọn lựa nội dung, tìm kiếm phương pháp, trang bị phương tiện, xây dựng môi trường, tổ chức đánh giá).

Bên cạnh đó, dự thảo chương trình cũng đã nêu được một kế hoạch dạy học vừa phản ánh được xu thế của thế giới trong lĩnh vực này, vừa phù hợp với thực tiễn giáo dục Việt Nam với một hệ thống các lĩnh vực giáo dục, hệ thống các môn học và hoạt động tương ứng, thích hợp với đặc điểm của hai giai đoạn (giai đoạn giáo dục bắt buộc – hết THCS và giai đoạn hướng nghiệp – hết THPT).

Chương trình giáo dục phổ thông mới coi trọng việc phát triển các năng lực phù hợp với HS Việt Nam

Một thay đổi lớn trong việc biên soạn sách giáo khoa là chủ trương có một chương trình với nhiều bộ sách. Nước ta đã thực hiện hình thức tổ chức biên soạn này (trong đợt thay sách khi tiến hành cải cách giáo dục lần thứ 3) song chỉ mang tính chất thí điểm và sau đó đã ngừng thực hiện mà không tổng kết. Đối với nhiều nước trên thế giới thì đây là chuyện bình thường, song đối với Việt Nam thì theo tôi không phải là không có các thách thức trong tổ chức thực hiện.

Đánh giá nói chung và thi cử nói riêng được xem là một trọng điểm của đổi mới giáo dục lần này và một vài giải pháp đã được thực hiện như đánh giá học sinh tiểu học theo Thông tư 30, tổ chức kỳ thi THPT quốc gia.... Đánh giá, đặc biệt là thi cử luôn là vấn đề được toàn xã hội quan tâm – nhất là giáo dục nước ta vẫn chưa vượt ra khỏi một nền giáo dục ứng thí, vì vậy dù chủ trương đã được xem là đúng đắn song có những hạn chế, bất cập khi thực hiện nên vẫn có hiện tượng đồng thuận chưa cao trong các giới xã hội (Bộ GD&ĐT đã tổ chức tiến hành đánh giá việc thực hiện các hoạt động nói trên trong thời gian qua).

* Trong dự thảo CTGDPT cũng nhắc đến việc dạy học tích hợp, phân hóa và coi trọng sự trải nghiệm của người học, PGS có bình luận gì về điều này ?

- Tích hợp và phân hóa không phải là những vấn đề hoàn toàn mới trong quá trình xây dựng và triển khai Chương trình giáo dục phổ thông ở nước ta. Sự khác biệt của lần này là ở chỗ kiên quyết thực hiện chủ trương tích hợp một cách cụ thể và có cân nhắc cho phù hợp với thực tiễn giáo dục nước ta, qua việc chọn lựa phương án sao cho vừa đảm bảo được yêu cầu tích hợp vừa không gây khó khăn lớn cho việc biên soạn tài liệu và tổ chức hoạt động dạy học. Để thay thế cho việc tổ chức phân hóa theo kiểu phân ban hiện nay (đã tỏ ra là không đáp ứng được những yêu cầu đặt ra như dự kiến lúc ban đầu), lần này Ban soạn thảo đã thay thế hình thức đó bằng phương án tổ chức dạy học tự chọn. Phương án này được xây dựng trên cơ sở tham khảo nhiều mô hình của các nước với các hình thức tổ chức cụ thể. Tuy nhiên cũng cần phải lưu ý rằng kể cả tích hợp lẫn phân hóa mà chương trình giáo dục phổ thông lần này kiên quyết thực hiện sẽ đặt ra một số thách thức lớn mà ngành giáo dục cũng như xã hội phải chuẩn bị đương đầu. Chỉ tính riêng về mặt điều kiện đã phải tính đến các thay đổi phải có về cơ sở vật chất, xây dựng đội ngũ giáo viên (phải xây dựng thêm các phòng học, xem xét lại đội ngũ giáo viên để thỏa mãn các yêu cầu phức tạp khi tổ chức dạy học phân hóa), đó là chưa kể tới những khó khăn lớn đối với công tác quản lý.

Xin nói thêm một điểm mới khác: thay thế cho «Hoạt động ngoài giờ lên lớp» trước đây là « Hoạt động trải nghiệm và sáng tạo ». Chỉ riêng tên hoạt động cũng cho thấy ý đồ định hướng cho hoạt động này về mục đích và cách thực hiện: coi trọng trải nghiệm cá nhân, coi trọng việc tổ chức hoạt động sáng tạo (chủ thể sáng tạo, tư duy sáng tạo, động cơ sáng tạo, sản phẩm sáng tạo...).

Thầy cô càng có kiến thức uyên thâm càng có sức hút đối với học trò

*PGS hy vọng gì vào sự đổi mới của chương trình lần này ?

- Chương trình lần này có nhiều điểm mới, không chỉ ở tổ chức hành động mà trước hết là ở các định hướng xây dựng trong bối cảnh cả nước, toàn ngành thực hiện Nghị quyết số 29/NQ-TW về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục nước nhà. Sự chuẩn bị công phu, thận trọng có thể tạo nên niềm tin ban đầu về kết quả thực hiện. Đưa cái mới vào thực tiễn chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là khi triển khai những công việc mà về cơ bản có thể xem là hoàn toàn mới ở nước ta. Tuy nhiên giống như các lần triển khai chương trình trước đây, những khó khăn, những vướng mắc nảy sinh sẽ được vượt qua để có thể đạt được mục đích cuối cùng, nếu có sự đồng thuận cao và phối hợp tốt của các lực lượng tham gia cùng với sự chỉ đạo thường xuyên, cụ thể, kịp thời.

Tăng cường cơ hội để giáo viên tiếp cận với dự thảo chương trình mới

*Được biết quỹ Hòa Bình và Phát triển Việt Nam đã từng chủ trì, tập hợp các nhà khoa học thực hiện đề tài độc lập cấp nhà nước “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cải cách công tác đào tạo giáo viên phổ thông” với mục tiêu là đề xuất quan điểm, nguyên tắc và giải pháp mang tính cải cách công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ giáo viên các cấp nhằm đón đầu cuộc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông thực hiện sau năm 2015, PGS có thể nói rõ hơn về đề tài này?

- Theo mục tiêu của đề tài, các cơ sở đào tạo giáo viên cần phải đổi mới nội dung và phương thức đào tạo để đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục phổ thông nói chung, của việc triển khai chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 nói riêng. Đề tài đã chỉ ra được các mô hình trường phổ thông Việt Nam, mô hình người giáo viên phổ thông trong tương lai. Với các mô hình đó, trên cơ sở đánh giá thực trạng đào tạo giáo viên, đề tài đã đề xuất các biện pháp có liên quan tới mục đích, nội dung, phương thức đào tạo, xây dựng hệ thống các cơ sở đào tạo giáo viên, bổ sung và hoàn thiện chính sách đối với giáo viên phổ thông. Từ các kết quả thu được, đề tài đã có kiến nghị gửi các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Một số kiến nghị đã được xem xét và sử dụng. Dưới đây, tôi chỉ xin nêu một vài suy nghĩ qua quá trình tham gia đề tài:

Trong số các yếu tố tác động trực tiếp đến chất lượng giáo dục thì đội ngũ giáo viên (số lượng, chất lượng, cơ cấu) đóng vai trò quyết định số 1. Giáo viên, trước hết là một nhà giáo dục chuyên nghiệp (không phải là « thợ dạy »), bằng chính nhân cách và tài năng của mình mà giáo dục người học. Chính vì vậy cần hết sức quan tâm đến đội ngũ giáo viên trong quá trình đào tạo (đào tạo trong nhà trường sư phạm chỉ là giai đoạn đầu của quá trình đó). Lâu nay các cơ sở đào tạo giáo viên đã rất cố gắng trong hoạt động này song dường như vẫn chưa đáp ứng được một cách kịp thời và đầy đủ những đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới giáo dục phổ thông. Có lẽ trước hết các cơ sở đào tạo giáo viên cần có một mục tiêu đào tạo rõ ràng, cụ thể hơn nữa theo hướng xác định đầy đủ các phẩm chất và năng lực của người thầy giáo tương lai trong giai đoạn đào tạo ban đầu (theo mô hình người giáo viên phổ thông Việt Nam trong bối cảnh mới).

Một điều đáng chú ý là người giáo viên không chỉ cần giỏi trong lĩnh vực môn học (kiến thức khoa học cũng như các hiểu biết, kinh nghiệm nghiệp vụ) mà còn cần có một nền tảng văn hóa với vốn kinh nghiệm sống phong phú để từ đó tác động tích cực tới học sinh của mình. Thực tiễn giáo dục và cuộc sống đã chứng tỏ rằng các thầy giáo với lương tâm nghề nghiệp trong sáng, tay nghề vững vàng và kiến thức toàn diện, uyên thâm có sức thu hút rất lớn đối với học trò, và từ đó có tác dụng giáo dục hiệu quả, sâu sắc đối với họ.

Hoạt động trải nghiệm và sáng tạo được coi trọng hơn trong chương trình giáo dục phổ thông mới.

Qua các cuộc điều tra bổ sung mà đề tài đã tiến hành có một vài điều đáng lưu ý là : Động lực dạy học của giáo viên đang là một vấn đề cần được sự quan tâm của các cấp quản lý (không chỉ trong ngành giáo dục), các giới xã hội. Điều tra trên một mẫu nhỏ (khoảng 500 đối tượng là giáo viên) thì có khoảng gần 50% đã trả lời « không » khi được hỏi là «nếu được chọn lại nghề thì có chọn nghề dạy học hay không ? ». Thật khó suy rộng kết quả này trên toàn bộ giáo viên phổ thông vì mẫu quá bé (so với khoảng 800.000 người) nhưng dù sao cũng là một vấn đề phải suy nghĩ.

Khi thu thập ý kiến của cán bộ quản lý giáo dục, một số giáo viên về tình yêu nghề nghiệp thì chúng tôi thấy rằng, ngoài một số các thầy giáo, cô giáo thực sự yêu nghề và chọn nghề khi vào học trường sư phạm thì đa số còn lại cho rằng từ lúc ban đầu khi chọn nghề dạy học chỉ nghĩ đó là một nghề như mọi nghề khác để mưu sinh. Tuy nhiên qua quá trình giảng dạy, tiếp xúc với học sinh, họ đã tự nhận ra là đang thực hiện một nhiệm vụ quan trọng, mặc dù phức tạp, từ đó xác định được tinh thần trách nhiệm trong các hoạt động và cố gắng thể hiện trong suốt thời gian dạy học.

Giáo viên đóng vai trò quyết định cho việc thành bại của việc triển khai chương trình giáo dục phổ thông vì họ chính là người trực tiếp thực hiện. Do đó phải tăng cường hơn nữa các cơ hội để giáo viên tiếp cận với chương trình, bộ phận soạn thảo nên lắng nghe và thu nhận các ý kiến của đội ngũ này về chương trình. Trên cơ sở đồng thuận về nhận thức, hiểu biết rõ về những việc phải làm và biết cách làm thì có thể xem đó là yếu tố vô cùng quan trọng để đảm bảo chương trình giáo dục phổ thông sẽ được thực hiện có hiệu quả.

*Dự thảo văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng đã đưa ra những phương hướng, nhiệm vụ của GD&ĐT trong thời gian tới, PGS có ý kiến gì đóng góp cho phương hướng nói trên của dự thảo văn kiện Đại hội Đảng?

- Dự thảo văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng đã thể hiện được những nét cơ bản của Nghị quyết số 29/NQ-TW về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT trong giai đoạn 2015-2020. Mục tiêu giáo dục con người Việt Nam được xác định một cách đơn giản hơn, cụ thể hơn so với cách diễn đạt về mục tiêu này trong các văn kiện cùng loại trước đây. Đó là: “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả”. Mục tiêu giáo dục con người được trình bày như vậy sẽ làm cho mọi người thấy rõ hơn tính khả thi. Ngoài ra, trong dự thảo có nói về thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học, thật ra chuẩn hóa đội ngũ trong thực tiễn vẫn được hiểu là trình độ đào tạo nhưng để đầy đủ hơn thì không chỉ nói đến chuẩn hóa mà phải yêu cầu đạt được chuẩn nghề nghiệp theo các mức độ từ thấp đến cao.

 

*Xin cảm ơn PGS!

Kiều Giang – Hồng Hà (Thực hiện), Tạp chí Giáo dục Thủ đô số 70+71, tháng 11/2015

Ý kiến bạn đọc (0)

Viết ý kiến của bạn
 
Thăm dò ý kiến

Bạn thích nhất chuyên mục nào trên Tạp chí Giáo dục Thủ đô ?
  • Vấn đề - Sự kiện
  • Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vu
  • Gia đình - Nhà trường - Xã hội
  • Gương mặt cơ sở
  • Có thể bạn chưa biết
  • Văn hóa - Văn nghệ