Ngày đăng:   Thứ 6, 01-01-2016 14:33:35   /   Lượt đọc: 3071

PGS.TS Nghiêm Đình Vỳ: “Đổi mới phải dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với thực tiễn Việt Nam”

(GDTĐ) - Là một nhà giáo tâm huyết với nghề, một người quản lý tận tâm với sự nghiệp “trồng người”, PGS.TS Nghiêm Đình Vỳ – nguyên Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội rất quan tâm đến cuộc đổi mới giáo dục đang diễn ra hiện nay, trong đó có chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) tổng thể được Bộ GD&ĐT đưa ra lấy ý kiến trong thời gian qua. Theo PGS.TS Nghiêm Đình Vỳ, đổi mới và sắp xếp lại chương trình là điều hết sức quan trọng, nhưng đổi mới phải dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với thực tiễn Việt Nam thì hiệu quả mang lại mới được như mong muốn.

PGS.TS Nghiêm Đình Vỳ

Chỉ nên tích hợp những môn có mạch kiến thức gần nhau và có tính chất liên ngành

*Là một người gắn bó lâu năm với ngành GD, xin PGS cho biết suy nghĩ của mình về cuộc đổi mới giáo dục & đào tạo đang diễn ra hiện nay?

- Sau khi có Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị lần thứ 8 BCH Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, toàn ngành Giáo dục đã có nỗ lực rất lớn nhằm nâng cao chất lượng GD. Bộ GD&ĐT đã tiến hành đổi mới thi cử, đổi mới kiểm tra đánh giá và coi đây là khâu đột phá. Đồng thời Bộ cũng chỉ đạo và triển khai đổi mới phương pháp dạy học như: dạy học theo Dự án, dạy học theo Di sản…, triển khai Dự án VNEN (Mô hình trường học mới) có tính chất thí điểm ở cấp Tiểu học và 2 lớp đầu (6 và 7) của THCS, trên cơ sở học tập mô hình của Colombia. Mô hình VNEN có những tiến bộ về mặt phương pháp, về tổ chức dạy học. Tuy nhiên, tôi không rõ các môn khác như thế nào nhưng chương trình, nội dung môn Lịch sử trong Mô hình trường học mới theo tôi có nhiều hạn chế. Ở đây cơ bản vẫn là lắp ghép những bài cũ của chương trình hiện hành thành một số bài mới. Do đó sẽ có rất ít nội dung được sử dụng trong chương trình sau 2015 theo tinh thần đổi mới. Vì vậy, trong quá trình tiếp thu, vận dụng kinh nghiệm quốc tế, cần phải chú ý đến điều kiện của Việt Nam. Nên nghiên cứu kĩ để tránh việc một số nước đã làm, nay người ta bỏ hay định bỏ mà chúng ta lại vẫn theo. Kinh nghiệm khi hình thành trường đại học Đại cương trong những năm 90 là một bài học. Bây giờ là vấn đề tích hợp, cần suy nghĩ ở đâu, môn nào tích hợp được thì làm chứ không thể đại trà như kiểu ghép các môn một cách cơ học.

*Như PGS đã nói ở trên, Bộ GD&ĐT đã có nhiều cố gắng đổi mới trong đó có việc đổi mới về thi cử, vậy từ thực tế của kỳ thi THPT Quốc gia 2015 vừa qua, PGS có nhận xét gì?

- Kỳ thi THPT Quốc gia năm 2015 đã được các cấp đánh giá mặt được và hạn chế. Tuy nhiên, tôi thấy áp lực chờ đợi kết quả thi còn căng thẳng, ngay việc đi đến các trường để nộp hồ sơ cũng còn nặng nề, vất vả cho học sinh. Nhưng điều tôi băn khoăn là thấy nhiều học sinh không chọn được đúng ngành, đúng nghề như đã định trước, vì sau khi có điểm chuẩn của các trường thì học sinh đăng ký vào trường mà còn chỉ tiêu, bất chấp nghề gì. Như thế mục tiêu về nghề nghiệp rất hạn chế.

Theo tôi, nên giao cho các Sở GD&ĐT tổ chức thi và cấp bằng tốt nghiệp THPT, rồi sau đó các trường ĐH dựa trên hồ sơ, năng lực để tuyển chọn. Điều này có vẻ “quay lại” như cũ, về hình thức thì có thể nghĩ như vậy, nhưng cách làm phải đổi mới. Các trường ĐH sẽ kiểm tra kiến thức của học sinh nhưng dưới một hình thức nhẹ nhàng không nên nặng nề quá, có như vậy thì kỳ thi THPT Quốc gia sẽ giảm áp lực thực sự.

* Thế còn dự thảo Chương trình GDPT tổng thể được Bộ GD&ĐT đưa ra lấy ý kiến của toàn dân trong thời gian qua, PGS có bình luận gì về dự thảo CT này?

- Để xây dựng chương trình GDPT tổng thể, Bộ GD&ĐT đã có nhiều cố gắng. Đầu tiên là tổ chức nhiều hội thảo về mục tiêu, về phát triển năng lực, chương trình, kiểm tra, đánh giá, về tiêu chí sách giáo khoa..... trên cơ sở đó bộ phận thường trực đã bắt tay xây dựng Chương trình tổng thể, cũng đã đưa ra lấy ý kiến của các nhà giáo dục, các nhà chuyên môn. Sau đó, Bộ đã tổ chức tham khảo, lấy ý kiến của toàn dân trên mạng và cũng đã đạt được một số kết quả trong đó có định hướng đổi mới bám sát theo Nghị quyết số 29/NQ - TW chuyển từ truyền thụ kiến thức là chủ yếu sang phát triển năng lực của người học.

Theo dự thảo, chương trình GDPT tổng thể 12 năm được chia làm hai giai đoạn, giai đoạn GD cơ bản (gồm cấp TH 5 năm, cấp THCS 4 năm) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (cấp THPT 3 năm) nhưng phần định hướng nghề nghiệp nói chưa rõ. Tôi đồng ý với kiến nghị của ba Hiệp hội (Hiệp hội các trường ĐH và CĐ, Hội Liên hiệp khoa học kỹ thuật và Hội Khuyến học) là ngoài các trường phổ thông định hướng vào đại học, nên có các trường phổ thông nghề. Vì vậy, chương trình GDPT tổng thể phải có những bổ sung điều chỉnh cho hợp lý. Tôi tán thành khi nói về định hướng xây dựng các chương trình môn học thì gọi là môn học cốt lõi thuộc lĩnh vực Khoa học Xã hội. Nhưng về kế hoạch giáo dục gọi là môn Khoa học Xã hội (KHXH) thì không chính xác kể cả ở THCS và THPT. Nếu là lĩnh vực KHXH thì còn có các môn: Kinh tế học, Chính trị học, Luật học, Xã hội học, Dân số học… Trong Dự thảo chỉ có chủ yếu là Lịch sử và Địa lý. Hai môn này chỉ có một số kiến thức chung nhau, có tính liên môn, còn lại Lịch sử riêng, Địa lý riêng. Địa lý không hoàn toàn là KHXH, ngoài Địa lý kinh tế còn có Khoa học trái đất và Địa lý tự nhiên. Nên chăng gọi là môn Sử-Địa cả ở THCS và THPT? Sách giáo khoa của Pháp cũng có một cuốn ghi rõ là: Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân.

* Trong dự thảo chương trình GDPT tổng thể có đề cập đến việc tích hợp nội dung môn Lịch sử vào môn “Công dân với Tổ quốc” với kỳ vọng là sẽ góp phần giảm nhẹ chương trình, tạo hứng thú cho học sinh và nâng cao hiệu quả giáo dục. Việc tích hợp này cũng đã gây ra nhiều tranh luận trong thời gian qua, vậy PGS đánh giá như thế nào về thay đổi này?

- Trong chương trình GDPT tổng thể có hai nội dung nói về môn Lịch sử mà tôi quan tâm đó là môn Lịch sử là môn tự chọn và phân môn Lịch sử trong môn Công dân với Tổ quốc.

Trước hết tôi xin nói về môn Lịch sử là môn tự chọn. Nếu Lịch sử là môn tự chọn thì dự đoán là đa số học sinh sẽ không chọn, mà nếu có thì rất ít. Trên thế giới, lĩnh vực KHXH nói chung không được đề cao như các môn KHTN. Hiện nay theo tình hình phát triển chung của thời đại học sinh rất thực tiễn, đồng tiền đang lên ngôi, nên các em sẽ lựa chọn học cái gì để sau này ra trường dễ xin việc, vì vậy các em không chọn môn Lịch sử, minh chứng rõ nhất là cuộc thi vừa rồi rất ít HS chọn môn này. Theo tôi, môn Lịch sử phải là môn bắt buộc để giáo dục tinh thần yêu nước của học sinh, ý thức dân tộc. Ai cũng biết hiện nay các thế lực thù địch vẫn luôn có âm mưu phá hoại đất nước ta, nên không thể buông lỏng việc giáo dục truyền thống mà môn Lịch sử có thế mạnh. Hơn nữa nhiều nước trên thế giới không coi Lịch sử là môn học tự chọn. Ở các nước Mỹ, Canada, hơn 20 nước châu Âu thì môn Lịch sử là bắt buộc. Ở Trung Quốc, Nhật Bản, nhất là Hàn Quốc thì Lịch sử dân tộc là bắt buộc.

Còn về việc tích hợp môn Lịch sử vào môn Công dân với Tổ quốc, là không khoa học. Trong dự thảo chương trình GDPT tổng thể lại tích hợp 3 phân môn là Giáo dục Công dân, An ninh quốc phòng và Lịch sử vào thành môn Công dân với Tổ quốc. Cách tích hợp 3 phân môn này với nhau không phù hợp vì mục tiêu, định hướng, cách dạy của 3 môn này hoàn toàn khác nhau. Nếu tích hợp chỉ nên tích hợp những môn có mạch kiến thức gần nhau, hay có tính liên ngành, có định hướng, nội dung gần giống nhau. Tôi thấy, việc tích hợp này không dựa trên thực tiễn vì trên thế giới chưa có nước nào làm như thế. Đây chỉ là sự lắp ghép cơ học. Trong lịch sử giáo dục của chúng ta môn GDCD đã từng được tích hợp với môn Giáo dục thể chất (GDTC) nhưng sau đó phải tách ra vì không thể dạy được vì có quá nhiều bất cập nảy sinh. Và một vấn đề nữa là, hiện nay các trường sư phạm trong cả nước chưa đào tạo những giáo viên có khả năng dạy được những môn học có tính tổng hợp cao như vậy. Chúng tôi là những người đã viết chương trình trước đây, nhưng chương trình mang tính tổng hợp như môn Công dân với Tổ quốc như vậy thì chúng tôi cũng không thể viết được, càng không thể viết được sách giáo khoa. Tôi được giao nhiệm vụ xây dựng môn học này, nhưng không làm được vì đây là ba môn học khác nhau. Nếu không có tính khả thi, không có tính thực tiễn thì khi đưa vào để thực hiện, giáo viên sẽ mất phương hướng, sẽ gây nên những xáo trộn không đáng có. Theo tôi, phân môn Lịch sử không thể nằm trong môn Công dân với Tổ quốc, không những đây là ba môn khoa học khác nhau, không chung các mạch kiến thức để thực hiện tích hợp, mà theo NQ 29/NQ-TW thì tích hợp sâu ở lớp dưới, phân hóa dần ở lớp trên, nhưng Dự thảo lại vẫn tích hợp cao ở cấp THPT.

Bộ phận thường trực của Ban soạn thảo chương trình tổng thể có đưa ra ý kiến là môn Lịch sử được học nhiều giờ hơn, môn Lịch sử rất được coi trọng (Lịch sử tự chọn, Lịch sử là phân môn trong môn KHXH, phân môn trong Công dân với Tổ quốc và chuyên đề tự chọn). Nhìn thì có vẻ nhiều, nhưng các nhà Sử học thì cho rằng chương trình như vậy rất khó kiến tạo cho học sinh am hiểu Lịch sử là một môn khoa học. Một khi Lịch sử bị xé lẻ để phân vào nhiều môn khác nhau thì Lịch sử sẽ không còn là Lịch sử nữa bởi vì quan trọng nhất của môn Lịch sử là tính liên tục, tính hệ thống, học sinh phải nhận thức được dòng chảy của lịch sử. Ít mà tinh, chỉ cần môn Lịch sử là môn độc lập, bắt buộc ở THPT cho tất cả học sinh và môn Lịch sử cho các học sinh đi vào ngành Lịch sử là đủ.

* Vấn đề đặt ra là đổi mới để giảm môn bắt buộc, tăng môn tự chọn. Theo PGS cần làm gì để đảm bảo được yêu cầu này và cách dạy sử cũng cần có sự đổi mới thế nào để HS thích học, thích tìm hiểu các kiến thức lịch sử?

- Như trên đã nói, với bậc tiểu học việc tích hợp môn Lịch sử vào các môn học khác là phù hợp, theo đúng định hướng của đổi mới giáo dục. Chúng tôi đang suy nghĩ và xem xét chuyển tải kiến thức lịch sử thành những câu chuyện theo chuyên đề như du lịch qua các cố đô, các dòng sông hay tên nước Việt Nam qua các thời đại… Chuyển từ học theo thông sử thành kể chuyện lịch sử, chủ yếu là lịch sử Việt Nam, nhưng có kết hợp với những câu chuyện tiêu biểu của thế giới, ví dụ: kể về tên gọi của nước ta qua các thời kỳ, về các nhân vật lịch sử, về phong tục tập quán, dân tộc ở mức đơn giản, dễ hiểu, dễ nhớ. Đây là hình thức tích hợp các kiến thức môn học Lịch sử, Địa lý và có thêm Giáo dục công dân… phù hợp với học sinh tiểu học.

Để hóa giải yêu cầu giảm môn bắt buộc, tăng môn tự chọn, theo tôi có thể chia Lịch sử làm hai phần, trong đó phần Lịch sử Việt Nam là bắt buộc và Lịch sử thế giới là tự chọn và có thể đặt tên là Lịch sử 1 (bắt buộc), Lịch sử 2 (tự chọn).

Chúng ta cần xác định rõ quan điểm, môn Lịch sử cùng với các môn học ở giáo dục phổ thông phải trở thành nền tảng của giáo dục suốt đời, do đó cách dạy, cách học sẽ có những thay đổi cơ bản. Người thầy dạy sử chuyển từ người cung cấp tri thức sang vị trí người dẫn dắt học sinh tới các nguồn tri thức. Người học thì sẽ chuyển từ cách học cứng nhắc, thụ động sang cách học linh hoạt, theo nhóm với nhiều kênh thu nhận tri thức khác nhau.

HS trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam tự hào hát Quốc ca

Cần đổi mới cả về phương pháp và nội dung chương trình đào tạo giáo viên

* Có nhiều ý kiến cho rằng, đổi mới giáo dục điều quan trọng là phải đổi mới bắt đầu từ đội ngũ nhà giáo, PGS nhìn nhận thế nào về điều này và theo ông, cần làm gì để đổi mới công tác đào tạo giáo viên trong xu thế hiện nay?

- Trong dạy học có rất nhiều yếu tố quyết định đến chất lượng dạy học như: nguồn đầu vào, chương trình, giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị trường học… theo tôi, trong tất cả các yếu tố trên thì giáo viên đóng một vai trò hết sức quan trọng. “Đại kế giáo dục, người thầy là gốc”, cho dù có chương trình hay, có sách giáo khoa tốt nhưng nếu không có giáo viên giỏi thì việc truyền thụ kiến thức đến học trò cũng không thể đạt hiệu quả như mong muốn. Giáo viên bây giờ không chỉ là người truyền thụ kiến thức mà còn là người tổ chức dạy và học, tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm, đi tham quan, tham gia các hoạt động ngoài trời, rồi phát triển năng lực cho các em…

Để có đội ngũ nhà giáo có chất lượng cao, phải gắn với việc đào tạo giáo viên, đáp ứng với yêu cầu của đổi mới. Giáo viên ở nước ta về cơ bản đã được đào tạo chuyên môn và nghiệp vụ. Nhưng ngay cả các cơ sở đào tạo giáo viên để đáp ứng chuẩn cũng chưa thực sự tốt. Hiện nay ở ta có hai mô hình đào tạo, một là đào tạo liên tục 4 năm cả kiến thức cơ bản cả khoa học giáo dục và mô hình thứ 2 là học cơ bản 3 năm sau đó còn 1 năm học khoa học giáo dục. Tôi thấy đào tạo cơ bản và khoa học giáo dục nên gắn liền với nhau là tốt nhất. Sinh viên vừa học vừa thực hành. Chương trình đào tạo giáo viên cũng cần có những đổi mới cả về phương pháp và nội dung. Sinh viên sư phạm cần được tăng cường gắn với giáo dục phổ thông nhiều hơn nữa. Trong chương trình đào tạo, các trường nên có kế hoạch, một năm sinh viên phải xuống các trường phổ thông bao nhiêu thời gian, dự giờ, thao giảng bao nhiêu thời gian… Đó là vấn đề hết sức quan trọng trong đào tạo, vừa cung cấp cho sinh viên kiến thức khoa học, vừa là kiến thức nghề, trong đó có phương pháp dạy học mới.

* Còn vấn đề có nên tiếp tục miễn học phí cho sinh viên sư phạm, PGS có quan điểm như thế nào về vấn đề này cũng như việc trọng dụng nhân tài ở nước ta hiện nay?

- Thực tế hiện nay cho thấy, sinh viên học sư phạm phần lớn là người nông thôn, vì vậy cũng nên ưu tiên miễn học phí cho các em. Bên cạnh đó, đào tạo giáo viên cần được ưu đãi vì đó là môi trường đào tạo những người sau này sẽ tiếp tục sự nghiệp “trồng người”. Trước những ý kiến cho rằng, nếu miễn học phí cho họ, đến khi học xong ra trường, không xin được việc làm, họ lại đi làm việc khác thì chúng ta có thể yêu cầu các em kèm theo một số điều kiện như phải cam đoan sau khi ra nghề phải dạy từ 5 đến 10 năm chẳng hạn nếu không thì sẽ bị thu lại tiền học phí…

Còn về việc trọng dụng nhân tài, theo tôi, chúng ta có nhiều tài năng trẻ, nhưng chúng ta không theo dõi, trọng dụng, tài năng sẽ bị thui chột đi. Nhiều nhân tài đi học nước ngoài về mà chúng ta không có cơ chế thì sẽ xảy ra hiện tượng mà chúng ta thường hay gọi là “chảy máu chất xám”, những người đó họ sẽ ở lại nước ngoài sống và làm việc. Không riêng Việt Nam, ngay cả các nước phát triển như Canada, Đức, Singapore… cũng bị “chảy máu chất xám” và các nước này đã có nhiều chính sách đãi ngộ để kéo trí thức trở về. Ở nước ta, nhiều chuyên gia giáo dục lo lắng, chúng ta đang sống trong tư duy lạc quan “người tài làm việc ở nơi khác chỉ là thiệt thòi trước mắt. Một thời gian sau, họ trở về làm việc và chúng ta sẽ được hưởng kinh nghiệm của họ”. Thế nhưng, nếu không có chiến lược giữ chân nhân tài, không tạo ra cơ chế, tạo điều kiện khuyến khích thì đường về quê nhà của họ vẫn ở thì tương lai.

*Dự thảo văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng đã đưa ra những phương hướng, nhiệm vụ của GD&ĐT trong thời gian tới trong đó có việc phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo, PGS có ý kiến gì đóng góp cho phương hướng nói trên của dự thảo văn kiện Đại hội Đảng?

- Về cơ bản, tôi đồng ý với dự thảo văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng, nhưng theo tôi trong dự thảo văn kiện những vấn đề gì có thể cụ thể hóa hơn thì cần nên rõ. Ví dụ, trong dự thảo có nói giáo dục là quốc sách hàng đầu thì phải nói cụ thể hàng đầu là về mặt tài chính, hàng đầu cơ chế hay về nhân sự, con người. Cũng nên suy nghĩ xem trong văn kiện này có thể đặt ra vấn đề tái cấu trúc lại hệ thống giáo dục trong đó gắn với việc phân luồng, phân hóa sau THCS hay không? Không chỉ là hệ thống đào tạo học sinh để vào đại học mà phải có phân luồng trong đó có định hướng nghề nghiệp. Và nếu định hướng nghề nghiệp phải có những trường THPT là định hướng lên đại học, có những trường Trung học nghề. Ngoài ra, theo tôi trong dự thảo cũng nên nói về việc đào tạo con người Việt Nam mang bản sắc của người Việt Nam, luôn tự hào về người Việt Nam nhưng cũng dần dần hình thành những phẩm chất, năng lực của một người công dân toàn cầu hội nhập với thế giới.

*Xin cảm ơn PGS !

Kiều Giang – Hồng Hà (Thực hiện)/Tạp chí Giáo dục Thủ đô số 72, tháng 12/2015

Ý kiến bạn đọc (0)

Viết ý kiến của bạn
 
Thăm dò ý kiến

Bạn thích nhất chuyên mục nào trên Tạp chí Giáo dục Thủ đô ?
  • Vấn đề - Sự kiện
  • Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vu
  • Gia đình - Nhà trường - Xã hội
  • Gương mặt cơ sở
  • Có thể bạn chưa biết
  • Văn hóa - Văn nghệ