Ngày đăng:   Chủ nhật, 13-12-2015 09:50:40   /   Lượt đọc: 4479

Minh triết của Hồ Chí Minh về giáo dục giá trị sống

(GDTĐ) - Hiện nay, các nhà trường đang chú trọng việc dạy kỹ năng sống cho học sinh. Điều này là cần, song việc dạy này phải gắn với dạy “quan điểm sống”. Ai đó có kỹ năng sống khéo léo, thậm chí là “tháo vát” và hành động sống “sành điệu” mà quan điểm sống lệch lạc thì rất nguy hiểm.

Tuy nhiên, có quan điểm sống tốt đẹp mà kỹ năng sống luộm thuộm, hành động sống vụng về thì cũng chưa là người vẹn toàn. “Kỹ năng sống” thành thạo, hành động sống đúng đắn trên nền tảng “Quan điểm sống” hướng vào chân – thiện – mỹ tạo nên phạm trù “Giá trị sống” để mỗi con người tu dưỡng – hành động sống có ích cho đời sống cộng đồng. Các nhà giáo dục học hiện đại gọi đó là Giá trị sống bản thân. Họ coi đây là một nét mới của “Tư duy” (Triết lý) giáo dục trong thời kỳ đất nước phát triển với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Đất nước nào xây dựng và giúp cho thế hệ trẻ hiện thực được hệ giá trị bản thân đúng đắn và hợp thời, đất nước đó sẽ có các giờ học tốt, nhà trường tốt, hệ thống giáo dục và nền giáo dục tiên tiến không lạc hậu, lạc điệu với thời đại.

Ảnh tư liệu

Các bộ số năm về giá trị tu dưỡng – hành động

Tiếp thu tinh hoa Nho giáo, người Việt dạy cho con cháu năm giá trị sống căn cốt:

Khiêm – Cung – Tín – Mẫn – Huệ (nghĩa là Khiêm tốn, nhường nhịn; Cung kính, lễ phép; Thành tín, ngay thẳng; Cần mẫn nhanh nhẹn; Huệ ái bao dung).

Bộ năm trên được phát triển cùng với một bộ năm khác có tên Ngũ thường: Nhân – Nghĩa – Lễ - Trí – Tín.

Người Việt nhấn mạnh điều Nhân qua lời khuyên:

-         Thương người như thể thương thân

-         Lá lành đùm lá rách

-         Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ

Điều Nghĩa được gắn với Tình tạo nên phạm trù “Tình nghĩa”, “Nghĩa tình” và được nhắc nhủ:

-         Sống có nghĩa, có tình

-         Nghĩa tình thủy chung, son sắt

-         “Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông”

-         “Tình sâu mong trả nghĩa đầy”…

Điều Lễ, điều Trí được cô lại trong thông điệp: “Tiên học Lễ, Hậu học Văn”

Thông điệp này có hàm ý: Con người trước hết phải học lễ giáo (trên nền tảng Nhân – Nghĩa) sau đó học văn (Thi, Thư, Lễ, Nhạc…).

Lễ mà thiếu văn thì khiên cưỡng gò bó.

Văn mà thiếu lễ thì sống cẩu thả, luộm thuộm.

Lễ văn phải hài hòa trong cốt cách, phẩm cách. Phạm trù “Lễ” không chỉ biểu hiện ở bề nổi bề ngoài. Lễ yêu cầu con người thực hiện sự kỷ luật tự giác trong đời sống tinh thần, yêu cầu con người biết tự chủ trước ham muốn không phù hợp. Văn yêu cầu con người có hiểu biết, kiến thức hài hòa bao quát các mặt của đời sống thực tiễn.

Điều Tín được nhắc nhở: không được bội tín, bất tín, song cũng không nên ngu tín, cuồng tín mà phải trung tín, không cố chấp về một tín điều cổ hủ lạc hậu trong cuộc sống.

Năm nhân tố then chốt “Nhân – Nghĩa – Lễ - Trí – Tín” lại được Nho gia phát triển thành sự tu dưỡng năm “cảm giác” được gọi là năm thứ “khởi đầu” sau đây:

-         Cảm giác về lòng trắc ẩn thương người là khởi đầu của điều Nhân.

-         Cảm giác về sự biết hối hận, xấu hổ là khởi đầu của điều Nghĩa.

-         Cảm giác về sự biết tôn trọng phục tùng đạo lý, pháp lý, công lý là khởi đầu của điều Lễ.

-         Cảm giác về sự biết phân biệt phải trái là khởi đầu của điều Trí.

-         Cảm giác về sự biết day dứt, áy náy khi đổi ý là khởi đầu của điều Tín.

Trong tác phẩm “Nền giáo dục thế kỷ XXI, những triển vọng của các nước trong vòng cung châu Á, Thái Bình Dương” (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam xuất bản 1997), Raja Roy Singh chuyên gia UNESCO có nhắc đến các ý tưởng về những “khởi đầu” này của Nho gia và nhấn mạnh: Các nhà trường trong bối cảnh hiện nay không thực hiện được các nội dung giáo dục này thì sẽ đưa thông thái đến chỗ khủng hoảng…”.

Cùng với sự tiếp thu các giá trị sống tích cực của Nho giáo, người Việt còn chịu ảnh hưởng các giá trị sống tích cực của Phật giáo. Các gia đình có gia giáo nền nếp, gia phong trong sáng thường căn dặn con cháu:

-         Không sát sinh (tương đương với Nhân)

-         Không đạo tặc (tương đương với Nghĩa)

-         Không tà dâm (tương đương với Lễ)

-         Không uống rượu (tương đương với Trí)

-         Không nói dối (tương đương với Tín)

Năm điều trên thường gọi là Ngũ giới gắn với Ngũ thường.

Ngũ thường và Ngũ giới trở thành minh triết sống của dân tộc. Chúng định hình và phát triển thành giá trị sống trong mỗi gia đình, trong đời sống cộng đồng tạo nên nền văn hóa Việt với tư duy đặc sắc: “Con hơn cha là nhà có phúc”. Hơn ở đây có hàm ý: thế hệ sau gắng phấn đấu sống tốt hơn thế hệ trước về quan điểm sống, về lối sống, cách sống theo các bộ 5 nói trên.

Hồ Chí Minh nêu ra năm tính tốt cho con người Việt Nam Thời đại mới

Minh triết sống tích cực của Nho giáo, Phật giáo đã củng cố hun đúc đời sống tinh thần – văn hóa của người Việt để dân tộc thành công trong cuộc đấu tranh chống Hán hóa và đoàn kết xây dựng nên non sông bờ cõi gấm vóc từ Bắc đến Nam, song lại chưa thể giúp cho dân tộc vượt qua sự xâm lăng của phương Tây cuối thế kỷ XIX.

Tiếp thu ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên và nhiều dòng tư tưởng nhân văn quán triệt các mục tiêu Tự do – Bình đẳng – Bác ái, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã truyền vào tâm thức của người Việt:

“Trung với nước – Hiếu với dân”

“Những người thanh niên tốt muốn làm việc to chứ không muốn làm quan lớn”.

(Việc to đó) là hành động để:

“Dân tộc độc lập

Dân quyền tự do

Dân sinh hạnh phúc”

(Nước ta được hoàn toàn độc lập

Dân ta được hoàn toàn tự do

Đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành).

“Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhẫn nhịn nhưng chúng ta càng nhẫn nhịn, thực dân Pháp càng lấn tới và chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa.

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ… Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước…”.

Người thừa kế và canh tân ý tưởng của Nho gia, nêu lên hệ giá trị sống của con người Việt Nam trong thời đại mới với 5 tính tốt:

Nhân – Nghĩa – Trí – Dũng – Liêm theo nội hàm mới như sau:

-         Nhân là “Thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí đồng bào…”

-         Nghĩa là “Ngay thẳng không có tư tâm, không làm việc bậy…”

-         Trí là “Giữ đầu óc trong sạch sáng suốt, biết xem người, biết xét việc…”

-         Dũng là “Dũng cảm gan góc, gặp việc phải có gan làm, thấy khuyết điểm có gan sửa chữa…”

-         Liêm là “Không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ…”.

Có nhà nghiên cứu nước ngoài đã gọi hệ giá trị Hồ Chí Minh nêu ra là “Ngũ thường” của nước Việt Nam thời đại mới.

“Ngũ thường” của Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc Việt Nam “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi), chiến thắng hai thế lực hung bạo của thời đại là thực dân Pháp (1954) và đế quốc Mỹ (1975), thực hiện cuộc tái thống nhất non sông, lập ra nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1976) kiên trì mục tiêu “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”.

Ảnh tư liệu

“Tình nghĩa”: Hạt nhân của mọi hệ giá trị sống

Cuộc sống đang phát triển đa dạng. Thế giới đang tạo nên các thành quả văn minh vật chất đầy ấn tượng. Loài người sẽ kiến tạo và còn tuyên ngôn các hệ giá trị mới, song chắc chắn các thông điệp dù “Mới” và “Hiện đại” đến đâu thì vô luận trong bất cứ hoàn cảnh nào phạm trù “Tình nghĩa” vẫn luôn luôn là hạt nhân cho mọi hệ giá trị sống của con người.

Bác Hồ trong những ngày cuối cùng trước lúc đi xa khi học trò và đồng chí của mình đến thăm Bác, được Bác hỏi: “Các chú có biết nhân dân ta sống với nhau như thế nào không?”. Đồng chí Hà Huy Giáp có thưa với Bác: “Nhân dân ta sống tối lửa tắt đèn có nhau”, Bác đã căn dặn lại: “Đúng là như vậy, nhân dân ta sống có tình nghĩa với nhau. Hiểu chủ nghĩa Mác – Lê Nin là phải sống với nhau có tình nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác – Lê Nin”.

Theo Bác: Minh triết “Mác – Lê Nin” chính là: “Sống có tình nghĩa”.

Nhà văn hóa Đào Duy Anh tựa vào một ý thơ của tiền nhân:

“Thế gian vạn sự giai bào ảnh

Thiên kiếp duy dư nhất điểm tình” đã cảm thán trong hồi ký Nhớ nghĩ chiều hôm: “Xem ra hết thảy đều mây nổi

Còn với non sông một chữ tình”.

Lý luận “Giá trị học” đã khẳng định: “Tính người, tình người – Hai giá trị cội nguồn của đạo làm người”.

Tình là “Tấm lòng”

Nghĩa là “Trách nhiệm”

Tấm lòng và trách nhiệm không tồn tại vu vơ mà phải quyện vào nhau gắn với đời sống thực tiễn của cộng đồng, xã hội hai nhân tố này là giá đỡ của “Nhân cách”.

Tấm lòng không dẫn đến trách nhiệm thì con người sống hời hợt.

Trách nhiệm không chứa đựng Tấm lòng thì con người sống khiên cưỡng có khi giả dối.

Con người sống toàn vẹn là con người có tấm lòng nhân ái phát triển đồng bộ với ý thức trách nhiệm cao trước các nghĩa vụ do gia đình, xã hội đặt ra. Nếu để hai điều này rời rạc thì nhân cách méo mó.

“Tình – Nghĩa” và “Tấm lòng – Trách nhiệm” tạo thành hạt nhân, điểm tựa vững chắc để con người thực hiện tốt các bộ 5 đã nêu.

Các gia đình Việt Nam, các nhà trường Việt Nam, các thiết chế giáo dục của đất nước đang cố gắng thừa kế, phát huy các hệ giá trị quý báu này trong công tác giáo dục thế hệ trẻ để dân tộc hội nhập sâu với thời đại mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa Việt.

PGS.TS Đặng Quốc Bảo,

Ý kiến bạn đọc (0)

Viết ý kiến của bạn
 
Thăm dò ý kiến

Bạn thích nhất chuyên mục nào trên Tạp chí Giáo dục Thủ đô ?
  • Vấn đề - Sự kiện
  • Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vu
  • Gia đình - Nhà trường - Xã hội
  • Gương mặt cơ sở
  • Có thể bạn chưa biết
  • Văn hóa - Văn nghệ