Ngày đăng:   Thứ 4, 26-08-2015 10:16:44   /   Lượt đọc: 2376

Cử nhân thất nghiệp: Đổ đầu “ông” đào tạo?

(GDTĐ) - Con số gần 280.000 thạc sĩ, cử nhân (cả cử nhân cao đẳng) đang thất nghiệp mà Bộ LĐTB&XH vừa công bố đã gióng hồi chuông báo động khẩn.

 

Con số gần 280.000 thạc sĩ, cử nhân (cả cử nhân cao đẳng) đang thất nghiệp mà Bộ LĐTB&XH vừa công bố đã gióng hồi chuông báo động khẩn. Có nhiều nguyên nhân, song tội của “ông” đào tạo được cho là lớn nhất.
Thẩm định cấp phép có vấn đề
Nhìn vào những quy định, việc thành lập trường đại học (ĐH) và cao đẳng (CĐ) ở nước ta khá chặt chẽ, điều kiện đáp ứng không dễ. Quy trình mở trường được xử lý từ tỉnh, TP đến Bộ GD&ĐT và cuối cùng là Văn phòng Chính phủ. Thế nhưng, chiếu vào điều kiện hoạt động của trường ĐH do Chính phủ quy định, nếu tổ chức một cuộc kiểm định độc lập, liệu có bao nhiêu trường ĐH đáp ứng, con số này chắc chắn rất thấp.

Phải chăng, các trường ĐH ra đời ở nước ta những năm qua với tốc độ chóng mặt do quy trình thẩm định, xét duyệt có vấn đề? Do sự dễ dãi của chính quyền địa phương, năng lực thẩm định của Bộ GD&ĐT yếu hay do vấn đề gì khác? Cung cách lập trường ĐH thời gian qua ở nước ta cũng hơi lạ. Cứ có quyết định cho phép của Thủ tướng là sau một đêm “hô biến” từ trường CĐ lên ĐH. Đội ngũ giảng viên chuyển từ giảng CĐ lên giảng ĐH, trong khi trình độ giảng viên ĐH đòi hỏi khác.

Giờ học của sinh viên ngành kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Ảnh: Phạm Hùng


Dường như 100% các trường CĐ sư phạm địa phương sau khi cấp phép thành lập đã chuyển đổi thành trường ĐH đa ngành trong hoàn cảnh 3 thiếu: thiếu giảng viên cơ hữu đủ chuẩn, thiếu chương trình và giáo trình giảng dạy, thiếu cán bộ quản lý khoa và bộ môn. Nhìn vào danh mục ngành đào tạo tại nhiều trường ĐH thuộc loại này chẳng khác gì những trường hàng đầu có thâm niên hoạt động 40 - 50 năm.
Theo Quyết định 37/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch mạng lưới trường ĐH và CĐ thì đến năm 2020 cả nước sẽ có 460 trường, nhưng tới thời điểm này con số đã lên tới 499 trường (bao gồm 36 trường thuộc lĩnh vực an ninh quốc phòng).
Điều kiện mở ngành đào tạo cũng thiếu thực tế, không đảm bảo các tiêu chí, chẳng hạn việc cho phép mở ngành y - dược là ngành đặc thù chuyên sâu nhưng không có sự thẩm định của Bộ Y tế. Bởi vậy, hiện 20 trường ĐH được đào tạo ngành y - dược thì số trường không chuyên chiếm trên 50%, trong đó có không ít trường ĐH tư thục top dưới.
Năm 2014, điểm chuẩn vào các trường chuyên y - dược thấp nhất là 24, thì các ĐH không chuyên chỉ xét mức điểm trên sàn 1 - 2 điểm, thậm chí bằng điểm sàn như ĐH Nguyễn Tất Thành, Võ Trường Toản. Sinh viên y - dược đòi hỏi có tư duy cao, học lực giỏi mới có thể tiếp cận được các chuyên môn sâu, song với cách tuyển sinh đó thử hỏi chất lượng có đảm bảo? Không những tiêu chí đầu vào không đáp ứng mà các cơ sở đào tạo ĐH y - dược không chuyên thường chỉ sử dụng giảng viên vay mượn thiếu chuẩn, cơ sở thực hành thiếu thốn mang nặng tính đối phó.
Giảng viên thiếu và yếu
Đó là điệp khúc mỗi khi bàn về chất lượng đào tạo ĐH. Thực tế, để đáp ứng điều kiện mở trường và mở ngành đào tạo, nhiều trường top dưới bằng cách lập “danh sách ma” đội ngũ giảng viên. Với thực trạng “vơ bèo vạt tép” cho đủ giảng viên để đối phó với Bộ GD&ĐT, thử hỏi đến bao giờ chất lượng đào tạo mới đáp ứng thị trường. Không những thiếu về số lượng, phần lớn giảng viên đều yếu, thiếu chuẩn.
Trao đổi với Phó Hiệu trưởng phụ trách đào tạo của một trường ĐH lớn về việc cấp thiết viết lại hệ thống giáo trình cho phù hợp chuẩn đầu ra, vị này thừa nhận thực tế đó, nhưng tìm đâu ra lực lượng giảng viên để tổ chức thực hiện.
Việc áp dụng công nghệ máy chiếu trong giảng dạy ĐH được cho là sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Tuy vậy, việc lạm dụng công nghệ dạy học đó đã và đang để lại hệ quả xấu. Máy chiếu rất cần thiết cho các hội thảo khoa học hoặc tổ chức báo cáo chuyên đề khoa học. Còn sử dụng máy chiếu trong giảng dạy, giảng viên thậm chí nắm lơ mơ kiến thức vẫn có thể đạo diễn một cách không mấy khó khăn.
Giả định có sự cố mất điện, hỏi thầy đang giảng gì có khi thầy không nhớ. Công nghệ giảng dạy ĐH bằng máy chiếu nếu không có một đánh giá đúng để điều chỉnh thì vô hình biến các giảng viên thành thợ đọc bài giảng. Kiểu này còn tệ hơn thợ đọc bài giảng ngày trước chưa sử dụng máy chiếu, đây là vấn đề hết sức nguy hiểm.
Chương trình không đáp ứng
Không cần nói ra thì phần lớn người trong cuộc đều chung nhận định: Hiện chương trình, nội dung đào tạo ĐH đã quá lạc hậu, vừa thừa lại vừa thiếu. Bên cạnh đó, cơ cấu các môn học và cơ cấu của từng môn chưa hợp lý, không có tính liên thông, đặc biệt tính tích hợp trong các kiến thức rất yếu. Khảo sát đề cương môn học Thị trường chứng khoán thuộc ngành Tài chính ngân hàng được một trường ĐH thiết kế thời lượng 45 tiết (3 tín chỉ) nhưng dành tới 15 tiết chỉ cho việc tính chỉ số chứng khoán, trong khi kiến thức đó chỉ cần 1 tiết là có thể truyền đạt đủ. Cách xây dựng chương trình ngẫu hứng kiểu này diễn ra phổ biến ở các trường top dưới. Chương trình đào tạo kỹ năng nghiệp vụ để vận dụng lý thuyết đã học là vấn đề tệ hại nhất.
Đối với trường ĐH khối kỹ thuật thì thiếu xưởng thực hành, trường khối kinh tế, sinh viên tiếp cận thực tế qua thực tập tại DN rất khó thực hiện. Vì nhiều lý do, các DN không muốn cho phép sinh viên thực tập tiếp cận hoạt động sản xuất, kinh doanh của họ. Điều này đã minh chứng cho thực tế, nếu sinh viên được tuyển dụng thì DN phải đào tạo lại.
Hậu kiểm bị động
Tín hiệu nhiều sinh viên ra trường sẽ thất nghiệp đã phát ra từ nhiều năm trước do cách đào tạo ồ ạt và không cân đối giữa các ngành. Năm 2011, đoàn giám sát của Quốc hội đã cảnh báo về quy mô đào tạo vượt xa năng lực của các cơ sở đào tạo và đã nhấn mạnh về những bất hợp lý trong việc thành lập, nâng cấp các trường ĐH, CĐ cũng như việc mở ngành đào tạo.
Tháng 3 năm 2013, Bộ GD&ĐT đã khảo sát các cơ sở đào tạo ĐH, kết quả có 207 ngành đào tạo của 71 cơ sở đào tạo không đáp ứng điều kiện, phải tạm dừng mở ngành. Không ít cơ sở đào tạo có số ngành phải dừng mở rất cao, chẳng hạn như ĐH Hà Tĩnh có 14/16 ngành, ĐH Quảng Bình có 8 ngành... Cuộc khảo sát này của Bộ GD&ĐT chỉ mới đặt ra tiêu chí đáp ứng là số lượng giảng viên cơ hữu.
Thực tế nếu áp thêm các điều kiện khác như mặt bằng, cơ sở vật chất, phòng thực hành, thư viện… thì chắc 100% trường ĐH nâng cấp và ĐH tư thục bị dính vào trường hợp phải dừng ngành đào tạo.

 

Theo TS Cao Văn, Kinh tế và Đô thị

Ý kiến bạn đọc (0)

Viết ý kiến của bạn
 
Thăm dò ý kiến

Bạn thích nhất chuyên mục nào trên Tạp chí Giáo dục Thủ đô ?
  • Vấn đề - Sự kiện
  • Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vu
  • Gia đình - Nhà trường - Xã hội
  • Gương mặt cơ sở
  • Có thể bạn chưa biết
  • Văn hóa - Văn nghệ