Ngày đăng:   Thứ 5, 31-08-2017 15:24:43   /   Lượt đọc: 11086

Cần quy hoạch, sắp xếp hệ thống các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

(GDTĐ) - Theo TS Hoàng Ngọc Vinh – nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục Chuyên nghiệp (Bộ GD&ĐT), các cơ sở đào tạo nghề hiện nay không thiếu cơ hội tuyển sinh. Tuy nhiên, để tháo gỡ bài toán tuyển sinh cần thực hiện rất nhiều giải pháp, trong đó, việc quy hoạch sắp xếp hệ thống các cơ sở GDNN để giảm bớt sự cạnh tranh về tuyển sinh và phân tán nguồn lực là một trong những giải pháp mà các nhà quản lý cần đặc biệt quan tâm.

 

TS Hoàng Ngọc Vinh – nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục Chuyên nghiệp (Bộ GD&ĐT)

Muốn phân luồng hiệu quả phải tăng cường tính hấp dẫn của các trường nghề

*Năm nay, việc xét tuyển vào các trường ĐH không hạn chế số nguyện vọng, điều này có khiến nhu cầu vào các trường cao đẳng, trung cấp càng thấp hơn không khi mà các bậc học này vốn đã khó thu hút được thí sinh, thưa TS?

- Ở đây cần nhìn nhận một cách hệ thống về phát triển nguồn nhân lực. Theo báo cáo điều tra lao động việc làm của Bộ Kế hoạch Đầu tư, quí I năm 2017, trong hơn 53,3 triệu người ở độ tuổi lao động thì tỷ lệ lao động có trình độ đại học trở lên chiếm khoảng 9,3%. So với các quốc gia phát triển tỷ lệ này vào khoảng từ 25 đến 35% thì nhu cầu nhân lực có trình độ ĐH của ta còn thiếu rất nhiều theo định hướng đưa Việt Nam trở thành nước CNH. Mặt khác nền kinh tế của ta hiện nay, khả năng sử dụng nhân lực có trình độ ĐH cũng đang bị hạn chế ở một số ngành không thuộc lĩnh vực kỹ thuật công nghệ, vì vậy học nghề cơ hội việc làm có khả năng cao hơn sẽ tác động đến sự lựa chọn nghề nghiệp của người học. Do đó, các cơ sở đào tạo nghề cũng không phải thiếu cơ hội tuyển sinh.

* Vậy chúng ta cần tháo gỡ bài toán này thế nào?

- Các cơ sở GDNN cần xác định những ai có nhu cầu học nghề ngoài những học sinh tốt nghiệp THPT để thu hút họ vào. Đó chính là các thanh niên do điều kiện hoàn cảnh bỏ học sớm từ THCS hoặc THPT (con số này lên đến hàng trăm nghìn mỗi năm), những người lao động chưa có việc làm, những người muốn được đào tạo kỹ năng để chuyển đổi việc làm... và thậm chí cả những người đã tốt nghiệp các cơ sở giáo dục ĐH trước đây chưa kiếm được việc làm. Đặc biệt, với tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật ở nước ta còn quá lớn đến trên 78,7% (trên 42 triệu lao động trong độ tuổi)... thì nên tập trung cả vào đối tượng này nữa để thu hút vào các cơ sở GDNN.

Về mặt vĩ mô, các cơ quan quản lý phải tính toán tăng cường sự hấp dẫn của các cơ sở GDNN bằng thời gian đào tạo, chất lượng, học phí, quan hệ doanh nghiệp để tạo đầu ra việc làm cho người học, sử dụng các biện pháp thị trường lao động v.v... Bên cạnh đó, cần quy hoạch sắp xếp hệ thống các cơ sở GDNN để giảm bớt sự cạnh tranh tuyển sinh, phân tán nguồn lực.

Tóm lại, các cơ sở GDNN cần nhìn thấy thực tế là ngắm đến nhiều đối tượng khác nữa hơn là chỉ chăm chăm vào học sinh tốt nghiệp THPT.

 

*TS nhìn nhận thế nào về việc phân luồng học sinh học nghề hiện nay?

- Có thể nói, mục tiêu phân luồng của chúng ta chưa đạt được yêu cầu đặt ra trong Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020. Mỗi năm, chúng ta tuyển vào các trường trung cấp khoảng trên dưới 70.000 học sinh, trong khi còn hàng trăm nghìn học sinh khác một phần vào các TTGDTX hoặc không đi học gì... Mục tiêu đến năm 2020, phải phân luồng vào học trong các cơ sở GDNN là 30% tổng số học sinh sau THCS, nhưng với kết quả như vậy, có thể nói phân luồng không đạt yêu cầu.

Nguyên nhân không đạt được mục tiêu phân luồng có rất nhiều như không có quy hoạch tổng thể hệ thống GDĐT; sự thiếu kết nối giữa GDPT, GDNN và GDĐH; chương trình giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông đơn điệu và nghèo nàn; cơ chế liên thông mới chỉ thiết lập cho học sinh từ hệ GDNN đến ĐH, lại quên mất đối tượng học sinh học xong THCS đi theo các con đường khác nhau để phát triển sự nghiệp... Cũng phải nói thêm là chúng ta vẫn có chủ trương phân luồng vào GDNN theo lối mòn cũ - tức là học sinh tốt nghiệp THCS phải học TC, hay CĐ để có được bằng cấp mà không tính đến sự phân luồng bằng các chương trình đào tạo kỹ năng ngắn hạn cho rất nhiều thanh thiếu niên cần kỹ năng lao động với chứng chỉ là đủ. Ở đây có vai trò rất lớn của ngành giáo dục, lao động, doanh nghiệp và các cấp ủy Đảng chính quyền các địa phương trong việc thực hiện chủ trương phân luồng.

*Những bất cập trong phân luồng sẽ dẫn đến tình trạng thừa thầy thiếu thợ. Để phân luồng hiệu quả chúng ta phải làm gì, thưa TS?

- Đất nước ta hiện thiếu cả thầy lẫn thợ, đừng vội nói thừa thầy thiếu thợ. Hay nói đúng hơn là chúng ta đang thiếu hụt cả thầy tốt và thợ giỏi. Để phân luồng hiệu quả thì cần sớm quy hoạch hệ thống GDĐT, áp dụng linh hoạt các mô hình đào tạo, tăng cường phát triển đội ngũ giáo viên giáo dục hướng nghiệp, hợp tác giữa các trường phổ thông với cơ sở GDNN và với doanh nghiệp để đào tạo sớm kỹ năng cho người lao động... Đặc biệt phải thiết lập hệ thống giáo dục tăng cường tính hấp dẫn của các trường nghề...

Hiện nay cao đẳng đào tạo 3 năm trong hầu hết các ngành, nghề là sự lãng phí. Chỉ cần đào tạo 2 năm cho học sinh tốt nghiệp THPT trên cơ sở tinh giản chương trình và tích hợp các chương trình trong GDNN và phải hình thành dòng chảy giáo dục sau trung học (ở bậc ĐH) theo hướng công nghệ (hay còn gọi là khoa học ứng dụng). Nếu không phân luồng vào GDNN xong rất dễ bị tắc ở nút thắt này.

Cơ cấu việc làm tác động lớn đến cơ hội việc làm của sinh viên

*TS có suy nghĩ gì về tình trạng cử nhân ra trường thất nghiệp ngày càng nhiều trong những năm gần đây? Phải chăng chúng ta chưa đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, nhu cầu của thị trường lao động?

- Thất nghiệp là hiện tượng không của riêng quốc gia nào cả... Nguyên nhân thì có nhiều trong đó có nguyên nhân về chất lượng đào tạo. Mà chất lượng đào tạo thì do rất nhiều nguyên nhân khác như: chất lượng đội ngũ giảng viên; động cơ và sự chăm chỉ học hành của sinh viên; chương trình và phương pháp dạy lạc hậu không theo kịp với đòi hỏi của thị trường lao động; tài chính quá eo hẹp, sự hợp tác giữa nhà trường với doanh nghiệp còn ở mức quá khiếm tốn... Tăng trưởng nền kinh tế cũng như cơ cấu việc làm trong nền kinh tế đã tác động rất lớn đến cơ hội việc làm cho sinh viên.

Gần đây số lượng sinh viên chưa có việc làm đã giảm từ trên 200.000 xuống còn hơn 140.000 là tín hiệu đáng mừng từ thị trường lao động.

Các cơ sở đào tạo nghề hiện nay không thiếu cơ hội tuyển sinh

*Mới đây, Bộ LĐ-TB&XH đang lấy ý kiến cho đề án đưa 54.000 lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật đi xuất khẩu lao động, nhiều người cho rằng đây là đề án hỗ trợ cho những người có trình độ cao bị thất nghiệp, TS nghĩ gì về điều này?

- Về đề án này cần tính toán các yếu tố khả thi cũng như phân tích các rủi ro có thể xuất hiện. Tôi đã nghiên cứu dự thảo đề án thì thấy nội dung còn sơ sài, mang tính chủ quan của người soạn thảo mà chưa có những nghiên cứu thực tế như: những kết quả và nguyên nhân hạn chế cũng như thành tích của xuất khẩu lao động? bài học rút ra là gì? các quốc gia khác xuất khẩu đội ngũ này như thế nào? đâu là thị phần thị trường lao động mà Việt Nam có thế mạnh trong cạnh tranh với lao động từ Ấn Độ, Trung Quốc, Philipines... Mặt khác những phân tích xu hướng nhu cầu lao động kỹ thuật có trình độ cao ở trong nước trong 3-5 năm hoặc xa hơn cũng chưa có... sẽ có thể ảnh hưởng đến tính khả thi của đề án này.

*Vừa qua, Bộ GD&ĐT đã đưa ra chủ trương thí điểm xóa "biên chế" chuyển sang chế độ hợp đồng đối với giáo viên nhằm cải thiện thu nhập, nâng cao chất lượng đội ngũ gắn liền với quá trình đổi mới giáo dục. Quan điểm của TS về vấn đề này?

- Điều này thì người đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nói, Chính phủ chưa có chủ trương, cần phải nghiên cứu cẩn thận vấn đề này. Còn hiện nay giáo viên là viên chức theo Luật viên chức ký hợp đồng dài hạn với các cơ sở giáo dục không còn khái niệm "biên chế" như trước kia nữa.

Quan điểm cá nhân tôi thấy cần phải nghiên cứu ưu nhược điểm của mỗi phương án và những tác động của chúng theo nguyên tắc tất cả vì chất lượng và hiệu quả giáo dục các thế hệ trẻ để quyết định. Đặc biệt, do tính đa dạng trong phát triển kinh tế xã hội cần có chính sách nhất quán nhưng thực hiện phải vận dụng theo hoàn cảnh điều kiện của từng khu vực, mà không có một công thức chung cho mọi vùng miền. Ngành giáo dục cũng rất chia sẻ với băn khoăn của các phụ huynh và học sinh với một bộ phận giáo viên không làm hết chức trách của mình, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục còn thiếu dân chủ, công khai, minh bạch. Bản thân giáo viên và cán bộ quản lý chưa dám hoặc ngại đổi mới thì giáo dục Việt Nam sẽ chẳng có đổi mới nào hết cho dù chính sách có hay đến thế nào đi nữa. Vì thế, cần nghiên cứu có một cơ chế đào tạo, tuyển dụng, sử dụng, đánh giá và đãi ngộ khoa học để đánh giá đúng những ai tốt, những ai chưa đạt yêu cầu về năng lực và phẩm chất thì loại bỏ khỏi đội ngũ.

*Xin cảm ơn TS!

Kiều Giang – Hồng Hà (Thực hiện)/ nguồn: Tạp chí Giáo dục Thủ đô số 91, tháng 8/2017

Ý kiến bạn đọc (0)

Viết ý kiến của bạn
 
Thăm dò ý kiến

Bạn thích nhất chuyên mục nào trên Tạp chí Giáo dục Thủ đô ?
  • Vấn đề - Sự kiện
  • Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vu
  • Gia đình - Nhà trường - Xã hội
  • Gương mặt cơ sở
  • Có thể bạn chưa biết
  • Văn hóa - Văn nghệ